Monday, August 24, 2015

Bầu trời - Một buổi trưa nắng đẹp


Lâu lâu để ý nhìn lên trời thấy nó cao xanh, mây trắng lan man mác trong ánh nắng chang chang, thật là tự do tự tại.

Chụp vài tấm xem chơi.


“I always wonder why birds choose to stay in the same place when they can fly anywhere on the earth, then I ask myself the same question.” - Harun Yahya


"Tôi thường tự hỏi tại sao lũ chim cứ ở yên một chỗ trong khi chúng có thể bay đi khắp nơi trên trái đất, và rồi tôi hỏi mình điều tương tự." (tạm dịch)


Chịu khó một chút sẽ tìm thấy nhiều vẻ đẹp vẫn hiện hữu trong cái thiên nhiên đang bị tơi tả vì bàn tay con người này.


Sau đó làm vài việc hữu ích, ví dụ như..........mai ra dòm nữa :D .

 

Hết hình.

Friday, August 21, 2015

Ma nữ

Trên đời có một con đường mà hễ người ta càng cố tiến lên thì càng bị thụt lùi.

Chuyện xoay quanh hai vị thầy tu, một trẻ, một già. Vị thầy già không biết bao nhiêu tuổi nhưng bề ngoài trông cỡ hơn sáu mươi, còn vị trẻ thì khoảng hơn hai mươi. Họ ở trong một ngôi chùa trên núi, mà vị trí thì có thể nói rằng không đủ cao để người ta mệt khi leo lên, cũng không thấp quá để thấy cảnh nhân gian làm loạn ở đời.
 
Vị già, không biết là người từ đâu tới nhưng ngôi chùa mà ông đang làm trụ trì thì có từ trước khi ông tới đây. Ông cạo đầu nhưng để râu, cốt để không còn ai nhận ra ông của ngày xưa nữa. Còn vị trẻ thì đang ở độ tuổi trai tráng lắm. Lúc ông thầy già còn chưa làm trụ trì ở chùa, thì quanh năm chỉ có vài người đến thăm, còn khi ông lên làm trụ trì rồi thì ngôi chùa bỗng đón nhiều bá tánh hơn. Coi như là duyên vậy. Nhưng ông không thích như thế tí nào, chỗ này mới là lạ đây. Nếu như khách tới thắp hương cho chùa nhiều thì tiền và vật phẩm cúng dường của chùa sẽ nhiều lên, nếu ông không thích cũng không khó hiểu, nhưng đôi khi thấy ông còn tỏ ý khó chịu nữa. Một lần ông đem cất cái thùng cúng dường tam bảo đi để phật tử tới thăm không có chỗ bỏ thì hết cúng tiền nữa. Người ta thấy ông làm vậy bèn bảo nhau "thầy thật là một vị chân tu, không tham của bá tánh" nên tiếng tăm ngày một nổi lên khiến cho phật tử tới còn đông hơn. Có một số người đến xin quy y nhưng ngài luôn từ chối và lấy cớ là chùa đơn sơ không kham nổi đệ tử, rồi bảo họ hãy quay về mà phụng dưỡng cha mẹ coi như là đi tu vậy.

Nói đến vị thầy trẻ. Thầy ở đâu tới cũng không ai biết nhưng thầy lớn lên tại ngôi chùa này từ những ngày còn ẵm bế và được vị thầy già nuôi nấng rất chu đáo. Lúc nhỏ đã được đọc và nghe giảng kinh phật. Lúc thầy lên tám tuổi, thì vị thầy trụ trì cũ qua đời và chức trụ trì được trao lại cho vị thầy hiện tại, là một người mà thầy rất mực kính trọng và yêu thương. Rồi mỗi ngày một lớn, ăn nhiều và càng khỏe ra, thầy thấy yêu đời lắm. Đến khi thầy trổ mã, dân gian qua lại chùa có tiếng xì xầm là nhìn thầy có nét giống vị thầy trụ trì quá, họ bèn cười và bảo nhau rằng "đúng là thầy nào trò nấy" rồi yêu mến hết cả hai người. Nhưng càng lớn thì tâm tính của thầy càng muốn bay nhảy hơn là ngồi tụng kinh. Thầy hay quan tâm đến bá tánh, ai hỏi gì cũng lễ phép trả lời. Trong số đó, thầy có để ý đến một thiếu nữ thường theo mẹ lên chùa thắp hương lễ phật. Lúc bà mẹ khấn vái thì cô đi loanh quanh chùa tìm thầy trẻ để hỏi chuyện đạo. Một hôm, hai vị thầy và nữ thí chủ đang nói chuyện với nhau thì trụ trì đi qua, kêu vị thầy trẻ vào. Vị trụ trì giảng cho thầy trẻ nghe một bài mà mười mấy năm qua thầy cũng đã thuộc lòng rồi, nhưng vì vị thầy già sợ thầy trẻ quên nên cứ giảng hoài, có hôm giảng đến ba bốn lần. Bài giảng đó là về những cái mà một người đi tu như họ phải xa lánh, không thì tội phải sa hỏa ngục. Trong số đó, nguy hiểm nhất là tội tà dâm, khi đã quyết đi theo đường của phật rồi mà còn lưu luyến yêu đương hay chỉ là vọng tưởng ái dục thôi thì cũng phải tội lắm. Ban đầu vị thầy trẻ rất sợ nhưng càng lớn thì thầy càng sợ ít đi, có lẽ vì thầy đã có đủ kích thích tố_ mà phương tây gọi bằng cái từ hormon, để chế bớt cơn sợ của thầy.

Rồi một hôm nọ, vị thầy trẻ xin thầy trụ trì đi lên trên đồi cao hơn để hái lá thuốc về chữa bệnh làm phước. Đến chập tối thầy trẻ lọ mọ về nhưng không thấy lá thuốc đâu, trụ trì bèn hỏi:

- Đi hái thuốc sao về tay không?

Thầy trẻ bối rối đáp rằng:

- Con quên mang dao theo nên không dám hái, sợ ngắt mạnh thì dập cây.

- Thế sao đến giờ này mới về?

- Con ngồi thiền nên quên giờ ạ.

Vị trụ trì không hỏi nữa, đêm đó, ngài trằn trọc suốt không chợp mắt được. Sáng ra, ngài gọi thầy trẻ dậy sớm, kêu lại và tiếp tục giảng đạo. Ngài giảng rất chân tình nhưng tự cảm trong thâm tâm rằng vị thầy trẻ đang để đầu óc ở nơi nào đó, không phải quanh ngôi chùa này. Rồi từ đó, vị trụ trì ít giảng đạo cho vị thầy trẻ nghe hơn nhưng thấy ngài lo âu lắm. Phật tử đến thăm hỏi ngài có bệnh gì không thì ngài bảo là do tuổi già thôi.

Một hôm, vị thầy già hỏi thầy trẻ:

- Ta hay nghe con ra chỗ vắng vẻ cười nói mấy dịp có bà con lên chùa bái phật. Con nói với ai vậy?

- Dạ, là cô gái con của một người hay lên chùa và mua nhang cho chùa mình đấy ạ.

- À, hóa ra là bà ấy. Thế hai đứa con nói chuyện gì?

- Dạ,… chúng con nói về sinh lão bệnh tử ạ.

Vị thầy già không hỏi thêm, nhưng từ đó, ngài chẳng bảo thầy trẻ đến giảng đạo cho nữa.

Đến kỳ rằm lớn, mọi người kéo nhau lên chùa lễ phật. Kể cũng lạ, chỉ có hai vị thầy chùa thôi mà thu hút được nhiều bá tánh đến vậy. Lại còn chẳng có cỗ bàn gì, cũng chẳng có bánh trái chi, chỉ có mấy bài giảng từ vị trụ trì, thế mà thiên hạ đến rất đông. Kể ra, người đời đâu phải ai cũng ham hố màu mè, cũng còn nhiều người biết quý cái giản dị và thanh cao đấy chứ. Nhưng oái oăm thay, trong khi người đời thì như vậy, người trong chùa lại không giữ được mình. Ngay hôm rằm đó, vị thầy trẻ đã bỏ chùa ra đi. Tìm không thấy đệ tử đâu, vị trụ trì bèn tìm cô con gái của người đàn bà nọ. Thấy bà ấy đang quét lá trong sân, ngài tiến đến mở lời:

- Thưa bà, xin cứ để đấy.

- Ấy, thầy cứ để tôi. Chùa mình đơn sơ, ít người chăm sóc, hãy để tôi góp chút công lao làm phước cho mình vậy. – Người đàn bà nói nhỏ nhẹ.

- Xin cảm ơn bà. Chẳng hay cô con gái dịp này không cùng mẹ lên lễ phật sao?

- Ơ, thầy thật khéo hỏi chuyện. Tôi chỉ có hai thằng con trai chưa vợ, làm gì có con gái ạ.

- Vâng, thế là tôi nhầm rồi. – Vị thầy già gật đầu nhận lỗi rồi quay bước đi.

Khi khách lên chùa về hết, người đàn bà quét sân cũng về, một mình thầy ngồi trên sàn trong tư thế tọa thiền, tay mân tràng hạt, mặt quay về bàn thờ phật. Rồi hôm sau, có khách tới viếng chùa. Người ta đi tìm mãi nhưng không thấy bóng người nào trong chùa cả. Chẳng ai biết ngài trụ trì đã đi đâu, có người bảo đi lên núi gặp thầy nhưng khi họ lên thỉnh thầy về thì lại không thấy thầy ở đó nữa. Cứ như người ta lên càng cao thì thầy lại càng lên cao hơn, cốt sao tránh được cõi đời. Dần dần, chẳng ai tìm thầy nữa, họ cũng không còn lên chùa vì cho là chùa hết thiêng rồi. Đồ đạc trong chùa cũng chẳng ai thèm lấy vì chỉ là những món đồ tầm thường, kể cả tượng phật, kể cả kinh sách, tất cả chỉ là xi măng và giấy in.

Còn vị thầy trẻ, từ hôm bỏ ra đi theo cô gái đó đã mấy năm trời, nhưng những gì thầy có được chỉ là hình ảnh của người con gái đứng nói chuyện với mình. Những lúc đó, hồn thầy lâng lâng vui sướng, muốn theo về nhà cô nhưng không khi nào tìm được nhà của cô cả. Cô chỉ xuất hiện dưới một hình ảnh duy nhất, trò chuyện cùng thầy và lúc nào cũng thế, y trang phục đó, kiểu tóc đó, dáng đứng đó. Chẳng ai biết cô là ai để mà chỉ cho thầy.

Rồi thầy thất vọng, trở lại chùa. Nhưng khi về đến nơi, nhìn thấy sân chùa lá rụng đầy, quang cảnh vắng hoe, bên trong bụi phủ đầy tượng phật. Thầy tiến đến bàn thờ, lấy quyển kinh rồi giở ra xem như một thói quen, bất chợt nhìn thấy ảnh của một thiếu nữ kẹp ở phía trong của bìa cuối. Hơi giật mình nhưng thầy nhớ ra ngay vì chính thầy đã vẽ cô gái đó và giấu nó trong tủ đồ của mình, tại sao bây giờ nó lại được kẹp ở trong quyển kinh trên bàn thờ thế này. Nét vẽ không điêu luyện nhưng toát lên hồn của một người con gái đẹp, chính là người mà thầy đã đi tìm những ngày tháng qua. Hiểu rằng trụ trì đã biết chuyện, thầy muốn tìm người để thú nhận tội lỗi.

Thầy chạy loanh quanh chùa và gọi:

- Thầy ơi!

- Thầy ơi!

...!

Nhưng không có ai trả lời.

Rồi thầy khóc, gọi:

- Cha ơi!

- Cha ơi!

…!

Vẫn không có ai trả lời.

------------------------------------------- 
HẾT TRUYỆN - Tháng 8 năm 2015 - Tác giả: Số 11 - 1988 Truyện

Monday, August 3, 2015

Những điểm ảnh chết của cách nhìn đời


Điều thứ 1:


Sống ở đời làm sao lường trước hết được mọi việc, đánh giá đúng hết mọi sự và mọi người? Nếu làm được tất cả thì đã là thánh nhân rồi. Chính vì không phải thánh nhân nên người ta mới có những sai lầm.

Điều thứ 2:


Con người hay có cái tật là nói quá, nói thêm. Nói quá, nói thêm đây không hẳn là quá và thêm chi tiết hay thông tin của sự việc mà là quá hay thêm cái cảm xúc cá nhân vào khi truyền tải thông tin thôi. Cũng cùng một việc như vậy nhưng được kể với hai giọng văn khác nhau thì cảm xúc của người nghe sẽ khác nhau. Cái gọi là quá hay thêm ở đây nó vô hình nhưng tác dụng của nó thì lớn lắm. Quá hay thêm chỉ là cái tật căn bản, từ đây nó dẫn đến một hậu quả to lớn hơn và nguy hiểm hơn là hận đời. Hận đời không có nghĩa là hận cả cuộc đời, ở mọi phương diện của nó, với tất cả mọi người trong nó, mà là một cách gọi để ám chỉ thái độ căm ghét đã lên đến đỉnh điểm về một khía cạnh nào đó của cuộc sống.

Điều thứ 3:


Hãy tưởng tượng cuộc sống dưới mắt một con người như một màn hình LCD, nó có vô số điểm ảnh chiếm chỗ trên đó để làm nhiệm vụ trình bày màu sắc, mỗi điểm ảnh mang một màu nhất định vào một thời điểm nhất định vì một lý do nhất định và nó có khả năng diễn tả mọi màu sắc ở mọi cấp độ. Chỉ cần hệ thống của máy tính xử lý ra màu nào thì nó sẽ hiển thị đúng theo màu ấy, nhiệm vụ của các điểm ảnh là như thế. Nhưng vì một nguyên nhân nào đó mà có những điểm ảnh không thể hiện được màu sắc theo đúng như vậy mà nó chỉ có thể hiển thị một hoặc vài màu, hoặc thậm chí là không còn màu nào cả, tức là đen thui luôn, thì người ta gọi nó là điểm ảnh "chết", theo cách người ta vẫn hay gọi. Những điểm ảnh "chết" như thế không thể diễn tả được sự đa dạng và phong phú của màu sắc mà hệ thống gửi đến nó. Bất kể hệ thống xử lý ra màu nào thì nó vẫn chỉ trình bày vài màu hoặc đen như thế thôi.

Điều thứ 4:


Thái độ hận đời như một điểm ảnh chết trong cái nhìn cuộc sống của một con người. Định kiến, thành kiến,… đại loại là sự chấp trước đều là những điểm ảnh chết trong cái trí. Người mang một định kiến cũng giống như một màn hình LCD mang một điểm ảnh chết. Tùy vào mức độ cực đoan mà cái nhìn về cuộc sống của nó bị kém đa dạng và phong phú như thế nào. Cuộc sống muôn màu bị những điểm ảnh chết _những điểm ảnh không có khả năng diễn tả sự việc, sự vật đúng như nó là, làm cho nghèo nàn.

Điều thứ 5:


Định kiến như những khối u của bệnh ung thư đối với tâm trí con người. Nếu như khối ung thư của cơ thể là do nạp quá nhiều độc tố, di truyền gen xấu, phóng xạ,… mà sinh ra thì khối ung thư của tâm trí _tức định kiến, là bởi ghét với hận, thiếu hiểu biết, tính chấp trước,… mà sinh ra.

Điều 6:


Trời mưa hay nắng mà không đúng lúc đôi khi cũng làm người ta ghét nhưng chỉ là vu vơ vậy thôi chứ đâu có ai oán hận ông trời? Động đất, sóng thần xảy ra làm chết không biết bao nhiêu sinh mạng, tan nát không biết bao nhiêu công trình nhưng cũng đâu có ai oán hận đất hay biển? Nhưng người mà làm tổn thương người thì sẽ có oán hận đấy.

Điều 7:


Khi bị tổn thương, người ta thường phản ứng lại bằng cách tạo ra lớp vỏ bảo vệ. Lớp vở đó chính là định kiến, nó là ranh giới phân tách giữa vùng an toàn với vùng mạo hiểm. Tổn thương càng lớn, định kiến càng sâu nặng và càng khó phá vỡ. Càng khó phá vỡ thì càng cần tác động mạnh để xâm nhập. Tác động càng mạnh thì càng gây đau đớn. Bởi vậy, định kiến càng sâu nặng thì chỉ càng khiến người ta đau khổ mà thôi. Đặc biệt là khi có kẻ bên ngoài cố tình phá vỡ định kiến đó, họ lại phải dùng một tác động rất mạnh để thực hiện, và nếu nó đủ mạnh để phá vỡ ranh giới thì nó cũng đủ mạnh để tạo ra một sự tổn thương lớn lao. Một tổn thương mới sẽ hình thành một định kiến mới ngay lập tức và lần này lại càng thu hẹp phạm vi hơn. Lúc đó, người ta càng thu mình, càng phản ứng dữ dội thì định kiến càng sâu nặng chứ không hề thuyên giảm.

Điều cuối:


Va chạm là điều tất yếu giữa con người. Tổn thương do đó cũng là một thứ thường tình. Định kiến sẽ trở thành chuyện không lấy gì làm lạ. Chúng ta chấp nhận những điều đó như một phần của cuộc sống nhưng chúng ta không chịu công nhận rằng cái nhìn về cuộc sống của mình bị "chết" ở một điểm nào đó, giống như trường hợp điểm ảnh "chết" trên màn hình LCD, là thực. Chúng ta luôn nghĩ mình có khả năng thấu hiểu và nhận định nhưng không phải thế, cái chúng ta hay có chỉ là một con mắt với những góc nhìn "chết" trong dòng thời gian, chúng lúc nào cũng thấy ở chỗ đó đúng cái thứ đó bất kể thực tế là gì. Thật không may là cái "màn hình LCD" này có nhiểu điểm ảnh chết lắm, rất nhiều. Và trớ trêu làm sao, nhiều khi những điểm ảnh chết này không chết vì "hệ thống" bị "tổn thương" quá mức mà là do tác động từ bên ngoài. Một kiểu của "tự kỷ ám thị". Bạn được bảo cho là thế và bạn tin là thế, niềm tin này hút cái đúng như nó đến với bạn để củng cố chính nó. -/