Trên đời có một con đường mà hễ người ta càng cố tiến lên thì càng bị thụt lùi.
Chuyện xoay quanh hai vị thầy tu, một trẻ, một già. Vị thầy già không biết bao nhiêu tuổi nhưng bề ngoài trông cỡ hơn sáu mươi, còn vị trẻ thì khoảng hơn hai mươi. Họ ở trong một ngôi chùa trên núi, mà vị trí thì có thể nói rằng không đủ cao để người ta mệt khi leo lên, cũng không thấp quá để thấy cảnh nhân gian làm loạn ở đời.
Vị già, không biết là người từ đâu tới nhưng ngôi chùa mà ông đang làm trụ trì thì có từ trước khi ông tới đây. Ông cạo đầu nhưng để râu, cốt để không còn ai nhận ra ông của ngày xưa nữa. Còn vị trẻ thì đang ở độ tuổi trai tráng lắm. Lúc ông thầy già còn chưa làm trụ trì ở chùa, thì quanh năm chỉ có vài người đến thăm, còn khi ông lên làm trụ trì rồi thì ngôi chùa bỗng đón nhiều bá tánh hơn. Coi như là duyên vậy. Nhưng ông không thích như thế tí nào, chỗ này mới là lạ đây. Nếu như khách tới thắp hương cho chùa nhiều thì tiền và vật phẩm cúng dường của chùa sẽ nhiều lên, nếu ông không thích cũng không khó hiểu, nhưng đôi khi thấy ông còn tỏ ý khó chịu nữa. Một lần ông đem cất cái thùng cúng dường tam bảo đi để phật tử tới thăm không có chỗ bỏ thì hết cúng tiền nữa. Người ta thấy ông làm vậy bèn bảo nhau "thầy thật là một vị chân tu, không tham của bá tánh" nên tiếng tăm ngày một nổi lên khiến cho phật tử tới còn đông hơn. Có một số người đến xin quy y nhưng ngài luôn từ chối và lấy cớ là chùa đơn sơ không kham nổi đệ tử, rồi bảo họ hãy quay về mà phụng dưỡng cha mẹ coi như là đi tu vậy.
Nói đến vị thầy trẻ. Thầy ở đâu tới cũng không ai biết nhưng thầy lớn lên tại ngôi chùa này từ những ngày còn ẵm bế và được vị thầy già nuôi nấng rất chu đáo. Lúc nhỏ đã được đọc và nghe giảng kinh phật. Lúc thầy lên tám tuổi, thì vị thầy trụ trì cũ qua đời và chức trụ trì được trao lại cho vị thầy hiện tại, là một người mà thầy rất mực kính trọng và yêu thương. Rồi mỗi ngày một lớn, ăn nhiều và càng khỏe ra, thầy thấy yêu đời lắm. Đến khi thầy trổ mã, dân gian qua lại chùa có tiếng xì xầm là nhìn thầy có nét giống vị thầy trụ trì quá, họ bèn cười và bảo nhau rằng "đúng là thầy nào trò nấy" rồi yêu mến hết cả hai người. Nhưng càng lớn thì tâm tính của thầy càng muốn bay nhảy hơn là ngồi tụng kinh. Thầy hay quan tâm đến bá tánh, ai hỏi gì cũng lễ phép trả lời. Trong số đó, thầy có để ý đến một thiếu nữ thường theo mẹ lên chùa thắp hương lễ phật. Lúc bà mẹ khấn vái thì cô đi loanh quanh chùa tìm thầy trẻ để hỏi chuyện đạo. Một hôm, hai vị thầy và nữ thí chủ đang nói chuyện với nhau thì trụ trì đi qua, kêu vị thầy trẻ vào. Vị trụ trì giảng cho thầy trẻ nghe một bài mà mười mấy năm qua thầy cũng đã thuộc lòng rồi, nhưng vì vị thầy già sợ thầy trẻ quên nên cứ giảng hoài, có hôm giảng đến ba bốn lần. Bài giảng đó là về những cái mà một người đi tu như họ phải xa lánh, không thì tội phải sa hỏa ngục. Trong số đó, nguy hiểm nhất là tội tà dâm, khi đã quyết đi theo đường của phật rồi mà còn lưu luyến yêu đương hay chỉ là vọng tưởng ái dục thôi thì cũng phải tội lắm. Ban đầu vị thầy trẻ rất sợ nhưng càng lớn thì thầy càng sợ ít đi, có lẽ vì thầy đã có đủ kích thích tố_ mà phương tây gọi bằng cái từ hormon, để chế bớt cơn sợ của thầy.
Rồi một hôm nọ, vị thầy trẻ xin thầy trụ trì đi lên trên đồi cao hơn để hái lá thuốc về chữa bệnh làm phước. Đến chập tối thầy trẻ lọ mọ về nhưng không thấy lá thuốc đâu, trụ trì bèn hỏi:
- Đi hái thuốc sao về tay không?
Thầy trẻ bối rối đáp rằng:
- Con quên mang dao theo nên không dám hái, sợ ngắt mạnh thì dập cây.
- Thế sao đến giờ này mới về?
- Con ngồi thiền nên quên giờ ạ.
Vị trụ trì không hỏi nữa, đêm đó, ngài trằn trọc suốt không chợp mắt được. Sáng ra, ngài gọi thầy trẻ dậy sớm, kêu lại và tiếp tục giảng đạo. Ngài giảng rất chân tình nhưng tự cảm trong thâm tâm rằng vị thầy trẻ đang để đầu óc ở nơi nào đó, không phải quanh ngôi chùa này. Rồi từ đó, vị trụ trì ít giảng đạo cho vị thầy trẻ nghe hơn nhưng thấy ngài lo âu lắm. Phật tử đến thăm hỏi ngài có bệnh gì không thì ngài bảo là do tuổi già thôi.
Một hôm, vị thầy già hỏi thầy trẻ:
- Ta hay nghe con ra chỗ vắng vẻ cười nói mấy dịp có bà con lên chùa bái phật. Con nói với ai vậy?
- Dạ, là cô gái con của một người hay lên chùa và mua nhang cho chùa mình đấy ạ.
- À, hóa ra là bà ấy. Thế hai đứa con nói chuyện gì?
- Dạ,… chúng con nói về sinh lão bệnh tử ạ.
Vị thầy già không hỏi thêm, nhưng từ đó, ngài chẳng bảo thầy trẻ đến giảng đạo cho nữa.
Đến kỳ rằm lớn, mọi người kéo nhau lên chùa lễ phật. Kể cũng lạ, chỉ có hai vị thầy chùa thôi mà thu hút được nhiều bá tánh đến vậy. Lại còn chẳng có cỗ bàn gì, cũng chẳng có bánh trái chi, chỉ có mấy bài giảng từ vị trụ trì, thế mà thiên hạ đến rất đông. Kể ra, người đời đâu phải ai cũng ham hố màu mè, cũng còn nhiều người biết quý cái giản dị và thanh cao đấy chứ. Nhưng oái oăm thay, trong khi người đời thì như vậy, người trong chùa lại không giữ được mình. Ngay hôm rằm đó, vị thầy trẻ đã bỏ chùa ra đi. Tìm không thấy đệ tử đâu, vị trụ trì bèn tìm cô con gái của người đàn bà nọ. Thấy bà ấy đang quét lá trong sân, ngài tiến đến mở lời:
- Thưa bà, xin cứ để đấy.
- Ấy, thầy cứ để tôi. Chùa mình đơn sơ, ít người chăm sóc, hãy để tôi góp chút công lao làm phước cho mình vậy. – Người đàn bà nói nhỏ nhẹ.
- Xin cảm ơn bà. Chẳng hay cô con gái dịp này không cùng mẹ lên lễ phật sao?
- Ơ, thầy thật khéo hỏi chuyện. Tôi chỉ có hai thằng con trai chưa vợ, làm gì có con gái ạ.
- Vâng, thế là tôi nhầm rồi. – Vị thầy già gật đầu nhận lỗi rồi quay bước đi.
Khi khách lên chùa về hết, người đàn bà quét sân cũng về, một mình thầy ngồi trên sàn trong tư thế tọa thiền, tay mân tràng hạt, mặt quay về bàn thờ phật. Rồi hôm sau, có khách tới viếng chùa. Người ta đi tìm mãi nhưng không thấy bóng người nào trong chùa cả. Chẳng ai biết ngài trụ trì đã đi đâu, có người bảo đi lên núi gặp thầy nhưng khi họ lên thỉnh thầy về thì lại không thấy thầy ở đó nữa. Cứ như người ta lên càng cao thì thầy lại càng lên cao hơn, cốt sao tránh được cõi đời. Dần dần, chẳng ai tìm thầy nữa, họ cũng không còn lên chùa vì cho là chùa hết thiêng rồi. Đồ đạc trong chùa cũng chẳng ai thèm lấy vì chỉ là những món đồ tầm thường, kể cả tượng phật, kể cả kinh sách, tất cả chỉ là xi măng và giấy in.
Còn vị thầy trẻ, từ hôm bỏ ra đi theo cô gái đó đã mấy năm trời, nhưng những gì thầy có được chỉ là hình ảnh của người con gái đứng nói chuyện với mình. Những lúc đó, hồn thầy lâng lâng vui sướng, muốn theo về nhà cô nhưng không khi nào tìm được nhà của cô cả. Cô chỉ xuất hiện dưới một hình ảnh duy nhất, trò chuyện cùng thầy và lúc nào cũng thế, y trang phục đó, kiểu tóc đó, dáng đứng đó. Chẳng ai biết cô là ai để mà chỉ cho thầy.
Rồi thầy thất vọng, trở lại chùa. Nhưng khi về đến nơi, nhìn thấy sân chùa lá rụng đầy, quang cảnh vắng hoe, bên trong bụi phủ đầy tượng phật. Thầy tiến đến bàn thờ, lấy quyển kinh rồi giở ra xem như một thói quen, bất chợt nhìn thấy ảnh của một thiếu nữ kẹp ở phía trong của bìa cuối. Hơi giật mình nhưng thầy nhớ ra ngay vì chính thầy đã vẽ cô gái đó và giấu nó trong tủ đồ của mình, tại sao bây giờ nó lại được kẹp ở trong quyển kinh trên bàn thờ thế này. Nét vẽ không điêu luyện nhưng toát lên hồn của một người con gái đẹp, chính là người mà thầy đã đi tìm những ngày tháng qua. Hiểu rằng trụ trì đã biết chuyện, thầy muốn tìm người để thú nhận tội lỗi.
Thầy chạy loanh quanh chùa và gọi:
- Thầy ơi!
- Thầy ơi!
...!
Nhưng không có ai trả lời.
Rồi thầy khóc, gọi:
- Cha ơi!
- Cha ơi!
…!
Vẫn không có ai trả lời.
-------------------------------------------
HẾT TRUYỆN - Tháng 8 năm 2015 - Tác giả: Số 11 - 1988 Truyện