Saturday, June 11, 2022

Sông Mê Kông - Cửu Long Giang


Hỏi đáp về sông Mê Kông


1. Sông Mê Kông dài bao nhiêu và đứng thứ mấy?

Theo Wikipedia thì sông Mê Kông dài khoảng 4909 km, còn theo Britannica thì nó dài 4350 km, trong khi trang Ủy Hội Mê Kông (viết tắt tiếng Anh là MRC – Mekong River Commission) cho biết nó dài khoảng 4900 km. Việc xếp hạng các con sông theo độ dài vốn dĩ là một việc khó, với những con số không thống nhất trong trường hợp của Mê Kông, nó có thể đứng thứ từ thứ 7 đến thứ 12 trên thế giới. Riêng ở Đông Nam Á thì sông Mê Kông chính xác là con sông dài nhất.

2. Con sông bắt nguồn từ đâu và chảy ra đâu?

Bắt nguồn từ vùng núi cao và trùng điệp nhất của Trái Đất, chảy ra vùng biển sâu và rộng lớn nhất của Trái Đất. Cụ thể hơn, bắt nguồn từ Tây Tạng, chảy ra Thái Bình Dương. Dọc đường, nó xuyên qua nhiều quốc gia Đông Nam Á.

Trên cao nguyên Tây Tạng (Tibetan Plateau), nơi sườn phía Bắc của dãy Đường Cổ Lạp Sơn (Tanggula Mountains), trong Khu bảo tồn Thiên nhiên Quốc gia Trung Quốc tên Sanjiangyuan, địa phận hành chính thuộc tỉnh Thanh Hải; các nguồn của sông Mê Kông bắt đầu mọc lên, một trong số đó là sông Za Qu. Khu bảo tồn này cũng được gọi là Khu bảo tồn Thiên nhiên Ba con sông vì nó chứa nguồn của ba con sông lớn là Dương Tử Giang, Hoàng Hà và sông Mê Kông. Rồi theo hướng Đông Nam, nó chảy đến Xương Đô (Qamdo hoặc Chamdo), thuộc địa phận Khu tự trị Tây Tạng (Tibetan Autonomous Region), hợp với nhiều nguồn chính khác tạo thành một dòng lớn chảy đến tỉnh Vân Nam, vẫn còn thuộc Trung Quốc. Ở Vân Nam nó được gọi là sông Lan Thương (Lancang), và chảy qua khu vực Ba Con Sông Song Song (Three Parallel Rivers) ở dãy Hoành Đoạn Sơn Mạch (Hengduan Mountains). Ba con sông đó chính là Mê Kông ở chính giữa, Dương Tử ở phía Đông và Thalween ở phía Tây (tên cũ là Salween, tên tiếng Trung phiên âm là Nujiang – Nộ Giang).

Sau khi chảy ra khỏi tỉnh Vân Nam của Trung Quốc, sông Mê Kông chính thức đi vào địa phận Đông Nam Á. Nó đi qua các nước theo thứ tự trước sau gồm: Myanmar, Lào, Thái Lan, Campuchia và Việt Nam. Đôi khi dòng chảy của nó được dùng làm biên giới tự nhiên giữa hai nước, đôi khi dòng chảy của nó đi qua một khu vực biên giới của ba nước thì gọi là điểm ba (tripoint).

Việt Nam là nước cuối cùng mà sông Mê Kông chảy qua, tại đây nó chia làm chín nhánh đổ ra Biển Đông. Chín nhánh sông là chín cửa đổ ra biển, cũng là căn cứ để dân Việt gọi nó là sông Cửu Long (chín con rồng), nhưng thực tế do địa hình địa vật thay đổi nhiều nên hiện tại (2022) không có đủ chín cửa.

[Trích từ Wiki]:

Sau đó dòng Mê Kông gặp biên giới Trung Quốc – Myanmar và chảy khoảng 10 kilomet (6.2 dặm) dọc biên giới đó cho đến khi nó chạm tới điểm ba (tripoint) của Trung Quốc, Myanmar và Lào. Từ đó nó chảy hướng tây nam và hình thành đường biên giới của Myanmar và Lào dài khoảng 100 kilomet (62 dặm) cho tới khi nó đến điểm ba của Myanmar, Lào và Thái Lan. Điểm này cũng là chỗ hợp lưu giữa sông Ruak (con sông chảy theo biên giới Thái – Myanmar) và Mê Kông. Khu vực điểm ba này đôi khi được gọi là Tam Giác Vàng (Golden Triangle), mặc dù cái thuật ngữ này cũng thường được dùng để chỉ một cái khu vực rộng lớn hơn nhiều của ba nước đó mà ai cũng biết rằng chính là khu vực sản xuất thuốc phiện.

Từ điểm ba Tam Giác Vàng, dòng Mê Kông chuyển sang đông nam hình thành nhanh gọn biên giới giữa Lào và Thái Lan.

Khon Pi Long là một loạt những xoáy dọc theo khu vực dài 1.6 kilomet của sông Mê Kông chia tách Chiang Rai và tỉnh Bokeo của Lào. Tên của các xoáy nước có nghĩa là ‘nơi vong hồn lạc lối’ (where the ghost lost its way’). Sau đó nó chuyển sang đông đi vào lãnh thổ của Lào, chảy qua mạn đông trước rồi sang mạn nam khoảng 400 kilomet (25 dặm) trước khi lại gặp biên giới với Thái. Một lần nữa, nó quy định biên giới Thái-Lào khoảng 850 kilomet (350 dặm) trong khi chảy về phía đông, đi qua thủ đô nước Lào, Vientiane, rồi quay sang phía nam. Lần thứ hai, con sông rời biên giới và chảy về đông vào nước Lào sớm chảy qua thành phố Pakse. Đoạn sau đó, nó chuyển và chảy ít nhiều trực tiếp về nam, băng vào Cambodia.

Tại Phnom Penh, dòng sông hợp về bờ bên phải với hệ thống sông và hồ Tonlé Sap. Khi Mê Kông nước cạn, thì Tonle Sap là một nhánh cấp nước: nước chảy từ hồ và sông vào Mê Kông. Khi Mê Kông nước lũ, dòng chảy ngược lại: từ lũ của Mê Kông chảy qua Tonle Sap.

Ngay sau khi sông Sap hợp lưu với Mê Kông ở Phnom Penh, thì sông Bassac rẽ nhánh bên bờ phải (phía tây). Sông Bassac là nhánh đầu tiên và chính của dòng Mê Kông. Đây là nơi bắt đầu của Đồng bằng Châu thổ sông Mê Kông. Hai con sông, Bassac phía tây và Mê Kông phía Đông, nhập vào Việt Nam không lâu sau đó. Ở Việt Nam, Bassac được gọi là sông Hậu (Hậu Giang), làm nhánh chính, phía đông; còn dòng chính của Mê Kông được gọi là sông Tiền (Tiền Giang). Ở Việt Nam, các nhánh sông của dòng phía đông (chính, Mê Kông) bao gồm sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông, và sông Cổ Chiên.”

[Hết trích]

3. Tên sông

Sông Mê Kông, tiếng Campuchia gọi là Mékôngk, tiếng Lào là Mènam Khong, tiếng Thái là Mae Nam Khong, tiếng Việt là sông Tiền Giang, tiếng Trung Quốc (Pinyin) là Lancang hoặc (theo Wade-Giles) là Lan ts’ang Chiang. (Theo Britannica)

4. Dòng chảy, vùng hứng mưa, phụ lưu và sông nhánh

Ở thượng nguồn sông Mê Kông, tuyết tan là thành phần chính của nước sông. Càng đi về sau càng có thêm nước từ mưa, nước từ các nhánh sông phụ hợp vào từ bên tả ngạn của sông. Đồng thời sông cũng tẻ nhánh thoát nước ra các nhánh hữu ngạn. Địa hình bên tả núi cao, chủ yếu thuộc các nước như Việt Nam và Lào. Địa hình bên hữu ngạn thấp hơn, chủ yếu thuộc Thái Lan, Campuchia. Riêng phần cửa sông nằm trọn trong nước Việt Nam.

Trong số các phụ lưu bên tả bắt nguồn từ núi ở miền Trung Việt Nam, Lào, Campuchia đổ xuống Mê Kông, một số sông nổi tiếng như: Tha, Nam Ou, Nam Theun, Kading, Banghiang, Se Kong, Se San, Srepok,…

Trong số các nhánh bên hữu mà dòng chính Mê Kông tẻ ra, có các sông lớn như: Mun, Chi, Tonle Sap, Bassac,... Tuy nhiên, đôi khi mực nước dòng chính thấp hơn thì các sông này sẽ chuyển nước cho dòng chính, điều này rất hay thấy ở khu vực Biển Hồ Tonle Sap.


5. Sông Mê Kông và Biển Hồ Tonle Sap?

Trong địa phận Campuchia, sông Mê Kông có giao với một con sông khác mà người địa phương (Campuchia) gọi là Tonle Sap. Sông Tonle Sap nối với một cái hồ rất lớn gọi là hồ Tonle Sap, dân Việt Nam thì lại quen gọi là Biển Hồ. Hễ mưa nhiều, Biển Hồ dư nước thì truyền cho Mê Kông, nếu Mê Kông nước nhiều hơn thì truyền cho Biển Hồ, qua qua lại lại như vậy tạo thành một hiện tượng kỳ thú gọi là dòng nghịch đảo (flow reversal) giữa sông Mê Kông và Biển Hồ thông qua sông Tonle Sap.

Từ Tonle có nghĩa là sông trong tiếng Campuchia, vậy Tonle Sap có nghĩa là Sông Sap.

6. Tiền Giang hay Hậu Giang mới là sông Mê Kông?

Sau khi rời khu vực Biển Hồ xong, sông Mê Kông tách ra một nhánh lớn gọi là sông Bassac (bên Cam gọi là Tonle Bassac), nhánh này chảy vào Việt Nam được gọi là sông Hậu. Còn dòng chính của Mê Kông cũng chảy vào Việt Nam, thì gọi là sông Tiền. Vậy suy cho cùng, Tiền hay Hậu cũng đều là sông Mê Kông cả.

7. Những cửa sông của dòng Mê Kông

Xưa nay truyền thụ rằng sông Mê Kông có chín cửa đổ ra biển, cũng vì thế mà có tên gọi sông Cửu Long (Chín Rồng). Trong sách Địa Lý Việt Nam có ghi chép về con sông như sau:

[Trích sách Địa Lý Việt Nam, tác giả: Nguyễn Khắc Ngữ, Phạm Đình Tiếu]:

1. – Tiền Giang.
Tiền Giang là hạ lưu của sông Cửu Long, giòng sông khá rộng, giữa giòng có những cù lao rất lớn và chẩy ra biển bằng 6 cửa:
Tiền giang chẩy qua Tân Châu, Cao Lãnh, Sa Đéc theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, khúc từ Vĩnh Long chẩy ra biển qua Mỹ Tho gọi là sông Mỹ Tho, khúc sát biển gọi là sông Cửa Đại.
Phía Bắc sông Cửa Đại có một thoát lưu nhỏ là sông Cửa Tiểu.
Từ Chợ Lách, Tiền Giang có một thoát lưu nhỏ là sông Ba Lai và 1 thoát lưu lớn là sông Hàm Luông.
Từ Vĩnh Long, Tiền Giang có 1 thoát lưu quan trọng là sông Cổ Chiên. Gần bờ biển sông này tách ra thành 1 phân lưu là sông Cung Hầu.
Các thoát lưu đều chảy ra biển bằng các cửa mang tên chúng.
2. – Hậu Giang.
Hậu Giang chẩy vào Việt Nam qua ngả Châu Đốc rồi chẩy qua Long Xuyên và Cần Thơ.
Từ Cần Thơ ra biển, Hậu Giang tách ra thành nhiều nhánh rồi lại tụ lại tạo nhiều cù lao.
Ra gần bờ biển, Hậu Giang lại tách thành 3 thoát lưu chẩy ra biển bằng 3 cửa Định An, Ba Thắc và Tranh Đề.

[Hết trích]

Theo thực tế hiện tại thì không còn hai cửa Ba Lai và Ba Thắc.

8. Đập nước thủy điện và cống ngăn mặn.

Đập nước là từ chủ yếu để nói về những đập thủy điện (hydropower dam), hoặc người ta cũng có thể gọi là nhà máy thủy điện (hydropower plant). Những con đập này chắn dòng trên thượng nguồn của sông, ở những khu vực mà nước chảy từ chỗ cao xuống thấp.

Trong khi đó, cống ngăn mặn, hay thấy người ta dùng tiếng Anh có gốc Hà Lan để gọi: “sluice”, đôi khi cũng có thể gọi là “lock” (khóa). Nó là những công trình đóng mở để điều tiết nước, làm thủy lợi. Ở miền Tây, những công trình như vậy gọi là cống, nhiệm vụ để ngăn nước mặn từ biển tràn vào, nhằm bảo vệ nước ngọt cho vùng trồng lúa và cây trái.

Trung Quốc hiện xây rất nhiều đập chắn thượng nguồn sông Mê Kông, khiến cho nước chảy xuống đã bị giảm mạnh, nhiều khi gây ra hạn hán. Nếu họ tích trữ nước sông và vì lý do nào đó (có thể đen tối) xả đột ngột thì sẽ tạo ra lũ theo dòng chảy. Nhưng lũ có càn quét miền Tây Nam nước Việt được không? Khó à, vì dòng sông sau khi rời Trung Quốc chảy vào Myanmar, Lào, Thái, Campuchia cũng đã bị chặn bởi vô số đập thủy điện rồi. Các nước kể trên sẽ đối mặt với lũ trước, còn thừa quá mới tới nước Việt. Cho nên, cái họa do những con đập dọc theo dòng Mê Kông và các nhánh của nó lên Việt Nam là sự thiếu nước ngọt cho nền nông nghiệp ở miền Tây. Có thể còn có thêm việc nước không còn phù sa như xưa nữa vì các con đập sẽ làm tích tụ phù sa, nước chảy ra đi xuống bị giảm thiểu phù sa, và qua rất nhiều con đập thì đến đồng bằng châu thổ của Việt Nam sẽ không còn gì cả.

Còn cống ngăn mặn, mục đích là để làm thủy lợi cho ngành trồng trọt, tuy nhiên nhiều nhà nghiên cứu nhận thấy lợi ích thì bèo bọt mà cái hại thì nhiều. Nước tù đọng, không có giao lưu với thủy triều của biển, hệ sinh thái sông ngòi chuyển thành hệ sinh thái hồ, thậm chí trở thành ao tù. Giao thương thì không thông vì các con cống này đóng mở cho dân đi ghe tàu ra vào trong thời gian ngắn, tai nạn thuyền bè nhiều, người dân miền sông nước đã cực khổ rồi nay lại càng cực khổ thêm.

Vậy là ở thượng nguồn thì mắc kẹt, nước không chảy nổi; ở hạ nguồn thì tù đọng, nước không thoát được; ở trung nguồn thì cà giựt cà chọt, bình thường thì ngáng trở dòng chảy, lúc thông thì nghĩa là lũ quét dữ dội. Tóm lại, dòng Mê Kông trong hoàn cảnh bây giờ là không thông được.


9. Suy nghĩ riêng về hiện tình của sông Mê Kông hiện nay

Việc chặn đầu nguồn của sông như việc nước Tàu đang làm giống như cướp tài nguyên nước dành cho nước Việt vậy. Nếu như phần nước này đúng thật là của nước Việt thì việc làm của Tàu là sai và những ứng dụng của Tàu khai thác từ phần tích trữ bất chính này sẽ tàng ẩn hiểm họa cho Tàu về sau. Cũng là nói cho cả Lào và Campuchia hay Thái Lan, và cả những người Việt Nam nào đã quyết định đầu tư thủy điện ở Lào.

Song song đó, việc chặn lối thoát của nước ra biển và ngăn biển dâng triều vào như cách mà Việt Nam đang làm giống như chống lại sức mạnh của Thái Bình Dương vậy. Đây là một cuộc chống chọi vô ích, thuở xưa tới nay không một kẻ nào làm nổi việc đó và ở thời đại này (thế kỷ 21) cũng chẳng cần phải làm thế để làm gì.

Thái Bình Dương rất rộng và sâu, tác động của nó đến lục địa Á Âu Phi trước hết là thông qua miền Nam nước Việt. Lục địa này là nơi trú ngụ của rất nhiều nước lớn nhỏ, đa phần dân số thế giới ở chỗ này. Nước biển cứ dâng, thời tiết ngày càng bất thường gây ra nhiều bão lũ và động đất, sạt lở, xói mòn, lại thêm con người ngu muội không chịu sống hài hòa với thiên nhiên mà cứ đòi lấn lướt và khai thác mặc sức, nên áp lực lên những công trình ngăn mặn là cực kỳ lớn. Thực tình mà nói mấy cái cống ghẻ mà nhà nước CHXHCN Việt Nam cho xây không đủ sức để ngăn biển Thái Bình, nó mạnh lắm. Mà quyết định ở chỗ này sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ hệ thống lục địa, sẽ làm thay đổi cục diện địa lý và chính trị, trước hết là Đông Nam Á, sau là châu Á. Vì thế giới hiện nay đã mang tính toàn cầu hóa, tác động qua lại nên những thay đổi ở cấp châu lục sẽ khiến cả thế giới cùng thay đổi.

Thêm chút:

Sông Mê Kông chảy xéo nối hai đầu cao và thấp nhất địa cầu. Nếu có ai hỏi vùng đất nào kết nối giữa dãy núi cao nhất thế giới, quanh năm tuyết phủ, với vùng biển sâu rộng nhất thế giới, quanh năm nóng ẩm; thì câu trả lời chính là vùng đất mà sông Mê Kông chảy qua, chính là Đông Nam Á. Nếu có ai thấy con sông này đặc biệt và quan trọng không chỉ trong vùng địa chính trị Đông Nam Á mà còn trên thế giới, thì cũng là chuyện thường.

Theo các nhà khoa học thì hệ sinh thái của sông Mê Kông rất đa dạng, cùng với sông Amazon huyền thoại, là hai con sông có đa dạng hệ động thực vật quanh nơi chảy qua nhất trên thế giới.

Dòng chảy của sông Mê Kông không hề chán mà là sự kết hợp vi diệu và độc đáo giữa hai thái cực. Ở vùng thượng, dòng chảy có tính bạo liệt do nhiều thác ghềnh lởm chởm. Ở vùng Trung, dòng chảy lẩn khuất, nhiều suối, mạch ngầm, sông ngòi lớn nhỏ lúc góp nước, lúc tách nước, rất khó truy dấu. Ở vùng hạ, dòng chảy rộng mênh mông hòa chung với cảnh quan kênh rạch chằng chịt không biết đâu mà lần, vừa có vẻ trầm lắng bao la, vừa chất chứa muôn vàn yêu thương hun đúc nuôi sống con dân.

Chuyện về con sông này còn nhiều lắm, nói mỏi miệng cũng chưa hết.


Thursday, May 26, 2022

Kênh trực giác – Chương 4 – Đại lục địa Á Âu Phi

(Đặt cái tựa nghe đao to búa lớn vậy chứ không có trình độ bàn sâu, phớt phớt chơi thôi).

***

Kênh trực giác

- - -

Chương 4 - ĐẠI LỤC ĐỊA Á ÂU PHI

Các siêu cường nhậu nhẹt say sưa bí tí rồi ngủ quên mút mùa nên để cho bọn quỷ xanh đỏ nó lộng hành. Sau khi thức dậy và nhìn lại mình trong gương, thấy cái mặt nó xấu đau.

Bây giờ là thế kỷ 21, cách đây hơn năm thế kỷ trước, không biết con linh cẩu nào xúi dại vua Sư Tử đi qua xứ Lúa để dụ người ta tách thửa. Thuở đời nay, hễ lúa thì ưu tiên dồn thửa để cò bay thẳng cánh mới phải, nhưng thời quỷ yêu lộng hành, đảo lộn âm dương, nên mới có cái ngu kiến đó. Đang lúc chưa biết đường hướng thế nào thì có khách tới thăm.

“Chỗ đó sao tối thế” – Sư Tử dè dặt.
“Yên tâm, để tôi soi đèn cho” – Đại Lồng Đèn trấn an.

Vậy mà Sư Tử cũng nghe theo, rồi còn lôi kéo nhiều mãnh thú khác cùng theo với mình, làm loạn ruộng đồng, đánh anh Hai Lúa bên bờ xuống ruộng vì ảnh chống lại quân cướp đất. Anh Hai Lúa bị đánh bầm dập, mềm như trái chuối, máu me bê bết, tay chân xụi lơ, lăn long lóc; nhưng cái đầu vẫn còn tỉnh táo táo, ảnh lẩn mình chờ thời. 


THỜI NGHIỆP QUẬT



Mảng lục địa Á Âu là một mảng lớn, kết nối với mảng Phi tạo thành một đại lục địa rộng lớn nhất trên Trái Đất, đến nay đã chiếm chiếm 5,7 tỷ người, 85% dân số, vừa là quê nhà vừa là thủ phủ và thị trường của rất nhiều nước lớn, thế lực lớn, và nhất là các tôn giáo lớn: Thiên Chúa, Hồi, Hindu,… Trong khi đó Cánh Đồng Lúa là chỗ đầu tiên vừa nhận ánh sáng Mặt Trời vừa nhận hơi ẩm từ Thái Bình Dương, lại đồng thời là chỗ nối liền lục địa (không phải đảo). Lẽ ra một nơi quan trọng và hiểm yếu như vậy thì bậc vương quyền phải biết mà không nên đụng tới, nhưng không, chẳng những đụng mà còn quậy nữa. Bây giờ cái nghiệp đó đã quật hết cả mảng, đi đến đâu cũng thấy chia rẽ. Không có mảng lục địa này, Sư Tử lấy thịt đâu mà ăn? Lồng Đèn biết lấy mỡ đâu mà thắp? Chủ chăn lấy cỏ đâu mà cho Dê, Bò ăn?

Thế rồi họ, với bản tính du mục từ thời tổ tiên truyền lại, đã nhìn qua châu Mỹ với một đôi mắt thèm khát, nhưng ở xứ này cũng đã có chủ: Đại Bàng.

Giống Đại Bàng bay trên bầu trời châu Mỹ, nó hay tìm thức ăn bằng những loài nhỏ bé lạc đàn chạy lung tung ở phía dưới. Nay quỷ của đại lục địa kéo qua mở nhà nuôi, gồm thâu mồi của Đại Bàng vào trong trại. Bị cạnh tranh lại còn ở trong cảnh "mãnh đại bàng nan địch quần hồ" nên nó chấp nhận chia phần nhưng trong lòng luôn mưu tính mai phục gài hàng lũ kia để loại bỏ đối thủ. Không hiểu người không thể thắng người, Đại Bàng cất công qua tận Á Phi Âu săn mồi.

Vào thời nghiệp quật, bọn quỷ xanh đỏ chuyển trụ sở, dời đô sang châu Mỹ vì nhà ở lục địa Á Phi Âu bị rung lắc dữ dội. Chuyện tranh ăn là không thể không xảy ra. Bọn này than trách thời loạn làm cho chuồng trại loạn đả, đi đến đâu cũng bị cái loạn kéo tới, nhưng nào biết đâu chính chúng là cái loạn. Làm sao trốn chạy khỏi bản thân mình được?

Nồi lẩu đã cạn, những gì thừa lại là cặn bã và xương xẩu, là mâm tiệc tàn cho chó ăn ké thôi, mà cũng phải loại chó ghẻ, chứ chó cưng đã được cho ăn từ trước.

Thời nghiệp quật cũng là thời đá bát, dành cho bọn quỷ yêu đáng lởm nhất, làm quỷ nhưng một chút tư duy cũng không có, hễ ăn xong là đá bể đồ đựng, chửi kẻ cho mình ăn. Sân khấu thế cuộc đến tuồng diễn của bọn ngu si, mạt hạng, điên loạn và đạo đức giả nhất của mọi loại quỷ. Trong khi nhìn cảnh bọn ghẻ lở tranh nhau những đống cứt, bãi ói và xương xẩu mà bọn quỷ đầu sỏ đã để lại, thì phía xa xa là cảnh tượng đau lòng: lũ đầu sỏ xỏ cánh, buộc cổ con Đại Bàng, cưỡi nó bay tiến về bầu trời phía Tây. Đại Bàng đã sa bẫy.


Thiên bất dung gian


Đại Bàng đang chở bọn quỷ đầu sỏ sang trời Tây định đô mới thì nửa đường gãy gánh vì bị....... hạ đường huyết.

Trước khi bay lên, Sư Tử có lỡ làm cái giọng trịch thượng với lũ ghẻ lở kia nên bây giờ lúng túng nghĩ cách nói gỡ: “Thời đại bây giờ không còn vương quyền nữa, mọi người đều bình đẳng”. Nhưng mà trên đầu Sư Tử vẫn còn đội vương miện, kêu gỡ xuống vẫn không chịu. Đến lượt Đại Lồng, với ngọn lửa chỉ còn leo lét và cái lồng bị móp tứ phía nói: “Văn minh Đại Lồng chiếu sáng bốn phương”.

May mắn hơn, ông chủ chăn cưỡi được con Đại Bàng khỏe nhất nên đã vượt Đại Tây Dương thành công, nhưng đáp nhầm chỗ. Cũng tại ăn nhiều thịt quá nên biến thành cái bị thịt, mập tù lú không bay lên núi nổi, vừa gặp bờ biển là rớt rồi, không chết đã là may. Nhưng ta nói, cá sấu ở đâu mà quá trời quá đất, chúng nó cắn mất cái đít. Không có đít làm sao ngồi được mà đòi cưỡi Đại Bàng?

Biết kiếm ăn ở đâu nữa bây giờ, chốn cũ đã phá tan tành, chỗ mới không làm chủ được. Cú chót này toàn đồ thối, thật là ê chề, không ngờ có ngày phải tẩm ướp, rồi chế biến đủ kiểu cho nó bớt thối để mà ăn.

Vốn dĩ lộc không phải của mình thì không nên cướp, vì cảnh tượng đứt gãy hay sụp đổ đã giăng mắc sẵn rồi. Cứ cái kiểu nghe phong phanh ở đây tốt, ở kia ngon rồi kéo đến, lòng tin rằng mình có phần nên thỏa sức cướp đoạt, thì chỉ có tai họa là chắc ăn nhất thôi. Nhưng ai? Kẻ nào đã phao mấy cái tin đó?

Sunday, April 24, 2022

Tôn giáo trên nước Việt - p3 - Cách dở để chơi

Phần 3

CÁCH DỞ ĐỂ CHƠI

Cách thứ nhất: Sắc tướng

Tôn giáo lẽ ra phải là chỗ u ẩn, dạt dào cảm xúc để con người ta tìm về tịnh dưỡng tâm hồn. Đáng tiếc, chuyện này ngày càng mờ nhạt, con người ngày nay đang sống trong một bầu không khí duy vật chất nặng nề, và bầu không khí tâm linh cũng thiên về cơ cấu vật chất, thể hiện ra đền chùa miếu điện, tượng cốt, quần áo, trang trí, phẩm trật, và dĩ nhiên là không thể thiếu tiền bạc được. Nói chung, những gì thuộc về phần sắc tướng của thế gian thì đều thấy dày đặc trong bầu không khí hành đạo ở các tôn giáo ngày nay. Trước khi trách cứ những người như tôi nghĩ không tốt về các tổ chức tôn giáo thì hãy nhìn lại các tổ chức tôn giáo xem việc tôi nói họ đang theo sắc tướng có sai gì không? Dẫu biết rằng cơ sở vật chất thờ tự là điều chấp nhận được nhưng việc bước chân vào một chỗ mà người ta vẫn trông đợi sẽ tìm thấy sự yên tịnh trong tâm hồn lẫn cảnh vật, một nơi lẽ ra phải hướng con người đến chỗ siêu linh, thì lại bắt gặp những cảnh tượng chẳng hơn gì chốn thị tứ, vẫn là một chữ “tiền” mà thôi.

Tại sao những người có đạo, dù là đạo gì đi nữa, lại dễ dàng ngả theo chiều hướng nghịch với hướng cao siêu hướng thượng của đạo như vậy? Theo tôi vì hai lẽ: ban đầu là họ lầm lẫn, sau khi vào rồi thì họ quá yếu để đi ra, còn tiếp tục thì phải bị cuốn vào vòng xoáy hình thức giả tạo và tiền bạc. Khi một người được tiếp cận để dẫn dắt vào đạo, liệu họ có được nói cho biết rằng sau này họ sẽ phải cúng tiền, càng ngày càng nhiều tiền, mà đôi khi sẽ làm họ mệt mỏi hay không? Liệu họ có được nói cho biết những phán xét, so sánh, chỉ trích đổ lên mình từ chính những đồng đạo mà họ đã từng nghĩ là một người từ bi, bao dung và đạo đức không?

Bầu không khí sắc tướng đang bủa vây và tràn ngập trong khắp nơi chốn của các tổ chức tôn giáo. Nó biểu diện ở nhiều dạng: có dạng tiền và vật chất các thứ, có dạng về danh và phẩm trật, có dạng về quyền lực ngấm ngầm đan xen với chính trị. Các tín đồ sẽ lần lượt bước qua các cấp độ, ban đầu họ sẽ tốn tiền, nhiều tiền, đổ công sức và nước bọt ra cho tổ chức của mình; nếu họ vẫn còn sức và có thể phát triển thêm, họ sẽ được lên mức cao hơn, lúc này họ sẽ phải tiếp tục vận dụng trí não của mình để cống hiến cho tổ chức tôn giáo sao cho tổ chức được vững bền, và được thưởng bằng phẩm vị. Có nhiều người sẽ bảo những phẩm trật đó chỉ là hư danh mà thôi. Vâng, người ta cứ nói thế, nhưng cũng chính người ta đeo đuổi theo nó. Cái danh hư ảo thì ai cũng chê bai được, nhưng khước từ thì khó lắm thay. Và trên bước đường leo cao trong những bậc thang tôn giáo, một người có thực lực ban đầu sẽ còn lại gì và đã gây ra thêm những gì, cũng như đã đánh đổi những gì; để mà khi leo lên thật cao, đến tận những nơi quyền lực nhất, thì họ lại quyết định tiếp tục nuôi dưỡng cái cơ chế sắc tướng đó chứ không dám đánh đổ đi để giúp đời giải thoát khỏi một vòng xoáy thần quyền danh lợi nguy hiểm, hoặc chí ít là giúp những đồng đạo nhỏ bé đáng thương ngây thơ vẫn còn đương chật vật xoay sở để cúng và dâng hiến gần như hết máu của mình cho tổ chức ở phía dưới kia?

Cách chơi rất dễ: xây, xây nữa, xây mãi; dựng, dựng nữa, dựng mãi; cúng, cúng nữa, cúng mãi; hiến, hiến nữa, hiến mãi. Sau bộn bề lo toan ngoài đời, con người những tưởng tìm được chỗ nghỉ ngơi nơi tôn giáo, nào ngờ khi bước vào, đập vào mắt họ trước hết vẫn là những thùng quyên góp.

Tại sao cách chơi này, nghe xong, một người có trí tuệ bình thường cũng đủ để nhận thấy nó không lành mạnh, và không thể nào là chính đạo của những bậc thầy đại giác ngộ của nhân loại, đầy lòng từ bi đã sống vào ngày xưa như Đức Thích Ca, Đức Jesus, Đức Lão,… đã chỉ dạy; nhưng lại mang đến sự thành công theo cái nghĩa là có nhiều người hưởng ứng như ngày nay? Tại sao? Tại sao nghe qua khá dễ thấy cách này không lành mạnh, không thể nào là chính đạo được lại nhiều người nghe theo đến vậy? Câu hỏi này, tôi vẫn đang tìm câu trả lời. Hoặc có thể tôi đã có câu trả lời nhưng không dám trả lời thì đúng hơn. Không có sự thật nào không cay đắng. Vì cay và đắng là những tính chất thuộc bản chất tự nhiên của mọi sự thật; nhưng sự thật còn có cả mặn, ngọt, chua nữa. Nói tóm lại, sự thật thì có đầy đủ ngũ vị thưa các bạn. Có chăng chúng ta đã ăn ngọt nơi chót lưỡi đầu môi rồi thì cũng đến lúc cảm nhận vị đắng nơi cuống họng vậy.

Cách thứ hai: Giả vô vi

Dường như muốn gom hết của cải của bá tánh, từ hạng người hời hợt, suy nghĩ giản đơn và dễ bị sắc tướng dụ dỗ, cho đến cả những người có trình độ và khó bị dẫn dắt theo vật chất; các tôn giáo vẫn có những con đường cao siêu hơn là chùa lớn tượng to. Nhưng mục đích tối hậu vẫn là hiến, hiến nữa, hiến mãi. Nếu bạn không bị thu hút bởi những thứ hữu hình có thể đong đo đếm được thì có thể bạn sẽ bị thu hút bởi những thứ nghe có vẻ cao siêu như là “không tức thị sắc, sắc tức thị không, sắc sắc không không, không không sắc sắc” chăng? Nếu thế thì vẫn có cách chơi bạn, xin lỗi, cách để bạn chơi, nghĩa là bạn vẫn không cần phải đứng ngoài, có cách để bạn dâng hiến những gì mình có mà vẫn cảm thấy thoải mái. Tôi gọi đây là “giả vô vi” vì bề ngoài nhìn có vẻ vô vi, nhưng bên trong vẫn tàng chứa một mục đích hay một dục vọng. Cách này rất là cao cường, hiện tôi vẫn còn phải nghiên cứu thêm trước khi nói nhiều với quý bạn về nó. Nhưng một cái gì đó mơ hồ trong mớ hiểu biết ít ỏi của tôi về cách này khiến tôi thấy mang máng cái ẩn ý về một dục vọng, một cái dục vọng muốn mang hết tất cả mọi người vào chung một mối. Bạn theo sắc tướng cũng được, bạn thích vô vi chán ghét sắc tướng cũng được, dù ngõ nào, tổ chức cũng tổ chức được cho bạn, dù ngõ nào bạn cũng có thể hiến dâng.

Saturday, April 23, 2022

Tôn giáo trên nước Việt - p2 - Mỏ vàng hình chữ S

phần 2

MỎ VÀNG HÌNH CHỮ S


Nếu như nói về tinh thần tín ngưỡng tâm linh và thờ cúng, thì nếu Việt tộc đứng thứ nhì, chắc không ai dám đứng thứ nhất. Có thể nhiều người nghe sẽ thấy không thuyết phục vì so với tinh thần tôn giáo như trong các đạo Hồi giáo, Ấn Độ giáo, hay Thiên Chúa giáo,… dường như biểu hiện tổ chức của người Việt trong vấn đề tâm linh có phần thua kém. Vâng, nghĩ như thế là đúng nhưng xin lưu ý, đó chỉ là biểu hiện về mặt tổ chức mà thôi. Cái phần tâm linh của người Việt không phát lộ ra ngoài nhiều như các dân tộc khác mà nó ẩn tàng và len lỏi sâu thẳm trong từng ngóc ngách tâm hồn người Việt theo một kiểu rất khó hiểu dù là với chính bản thân một người Việt nào đó. Cũng phải nói thêm rằng hãy đừng lầm tưởng giữa sự cuồng tín với tinh thần tâm linh cao độ.

Trong suốt chiều dài tồn tại và hình thành nên nền văn minh của mình, dân tộc Việt đã không tổ chức bất kỳ một hệ thống niềm tin nào, không có lối chính trị thần quyền nào, vậy mà vẫn lưu truyền văn hóa theo dòng lịch sử được, để đến thế kỷ 21 này, vẫn là một đất nước, một dân tộc có nét riêng. Cái trình độ tâm linh của dân tộc Việt đã đạt đến một mức đủ cao để dẫn dắt nó một cách vô hình tướng, không hiển lộ con đường ra ngoài để người ta thấy được nhưng chiêm nghiệm đủ lâu sẽ thấy rõ ràng là dân tộc vẫn đi theo con đường riêng của nó. Đôi khi nghe người ta chế nhạo bằng cách hỏi kháy thế này: tại sao dân Việt không có những công trình kiến trúc đồ sộ, những công trình vĩ đại sánh với các nước khác, những pho kinh sách, những áng văn, tiểu thuyết, trường thiên văn chương kinh điển,… Thì tôi chỉ muốn trả lời câu hỏi này nhưng không phải cho người ngoài nghe mà là cho chính những đồng bào cùng nghe: thứ nhất là chúng ta có chứ không phải là không, nhưng di sản thuộc thể loại đó của dân tộc đã không được lăng xê nhiều nên thế giới và chính chúng ta cũng ít biết. Thứ hai là: đúng, chúng ta không có nhiều những thứ đồ sộ, hoành tráng khi so với các nước khác, nhưng ai, dân tộc nào tồn tại bao lâu thì chúng ta cũng tồn tại bấy lâu. Một dân tộc nhỏ bé, không có những thứ to lớn mà vẫn trường thọ không hề thua kém so với những dân tộc to lớn khác, và không hề nằm ở một nơi heo hút không ai thèm dòm ngó đến; thì chỉ có thể là người ta không thấy cái to lớn mà nó có thôi. Mình không thấy không có nghĩa là nó không tồn tại. Và tôi mừng vì chính mình cũng không thấy được cái đó là cái gì. Thú thật là chưa bao giờ tôi mừng vì mình ngu dốt về một vấn đề gì đó đến như vậy.

Vào năm 2014, tờ điện báo Washington Post có bài viết tựa là: Đức Giáo Hoàng Francis hướng về phương Đông, nhắm đến một tương lai mới cho giáo hội Tây phương của ngài. Đức giáo hoàng đây chính là người đứng đầu ngoại diện của giáo hội Công Giáo La Mã Vatican, còn việc hướng về phương Đông thì có lẽ đã diễn ra từ lâu rồi, nhưng trong tình hình mới của thế kỷ 21, chúng ta mới được nghe báo chí nói tới.

https://www.washingtonpost.com/national/religion/pope-francis-heads-east-pointing-to-a-new-future-for-his-western-church/2014/08/08/82ef917c-1f20-11e4-9b6c-12e30cbe86a3_story.html

Vào thế kỷ thứ 16, thế giới thờ Thượng Đế chứng kiến một cuộc cách mạng tôn giáo, đó là phong trào Kháng Cách (Reformation) do mục sư Martin Luther khởi xướng. Nhiều người cũng chung niềm tin vào đấng tối cao nhưng không đồng tình với Vatican đã tách ra xây dựng các nhà thờ theo quan điểm riêng của họ và được gọi là “Những người phản kháng” (Protestants). Ở Việt Nam ngày nay, tôn giáo đi theo con đường này hay được gọi là đạo Tin Lành.

Có thể nói, thế kỷ 16, với phong trào Kháng Cách đó, có thể xem như một sự đỉnh điểm quyền lực đạt thành đối với giáo hội Công Giáo La Mã, từ đó về sau, rất nhiều sự nổi lên của những người chung một lòng tin vào đấng Jesus Christ là đấng cứu thế nhưng không tuân phục theo Vatican. Thần quyền của Vatican ở Âu châu, cái nôi của nó bắt đầu lung lay. Thế kỷ 16 cũng là thời điểm mà đạo Công giáo La Mã truyền vào Việt Nam, Nhật Bản, Hàn Quốc, và nhiều nước khác; riêng ở Trung Hoa thì từ lâu trước đó. Có thể thấy tuy Giáo hội La Mã bắt đầu suy vi ở Âu châu nhưng lại mở ra nhiều nhánh mới ở các châu lục khác mà trong đó có Á châu.

Cũng vào thế kỷ 16 này, ở nước Đại Việt đang là triều đại Lê Trung Hưng. Tức đã sau 20 năm nội thuộc nhà Minh của nước Tàu và bị người Hán cướp mất rất nhiều sách vở và đồ vật quý giá, cũng như bị áp đặt lối sống Hán nho lên nhân dân rất sâu. Tôn giáo ở nước Việt vào giai đoạn này gồm đạo Phật Bắc Tông, trường phái Đại Thừa phổ độ chúng sinh, chịu ảnh hưởng mạnh mẽ của Trung Hoa chủ yếu ở đất của nhà Lê; cùng lúc đó thì đạo của người Chăm và người Miên ở phía nam chữ S chịu ảnh hưởng của Ấn Độ. Giai đoạn này, cũng là giai đoạn phát triển sung túc của người Kinh nước Đại Việt, đánh đổi bằng sự hy sinh của khối người Chăm. Hệ tư tưởng Hán nho thịnh hành lấn át hệ tư tưởng Ấn Độ, Phật giáo Bắc Tông kiểu Trung Hoa là phái Phật giáo chủ đạo trên toàn cõi. Theo dần dần với sự hình thành dãy đất hình chữ S như ngày nay đương gọi là Việt Nam, với một tâm hồn bẩm sinh có thiên hướng tâm linh mạnh mẽ, người Việt đã dần dần nhu nhập các hệ tư tưởng của Trung và Ấn rồi chuyển hóa nó thành như một thứ của mình từ lúc nào không hay. Đến thế kỷ thứ 19, dân tộc Việt vì họa thực dân mà phải chuyển mình một lần nữa. Sự chuyển mình lần này cũng thúc đẩy tất cả những hạt giống của tất cả các tôn giáo đã gieo vào mảnh đất hình chữ S nảy mầm. Như gặp được thời và nước phù hợp, hạt giống Công giáo La Mã đã nẩy trước từ lâu, và lúc này nó càng sinh trưởng mãnh liệt hơn. Với một hệ thống tổ chức chặt chẽ hơn tất cả những tôn giáo khác, Công giáo La Mã vươn mình từ Bắc chí Nam Việt Nam. Không chịu lép vế, các hệ tư tưởng chịu ảnh hưởng của Trung Hoa cũng nẩy mầm, lớn mạnh nhất là Phật giáo Bắc Tông.

Từ thế kỷ 16 trở đi, thế giới chứng kiến một sự lan tỏa, dù là Âu hay Á, mọi thế lực đều lan tỏa, cứ như có một sự thúc đẩy của thời thế vậy. Nơi mảnh đất Việt, nhiều hạt giống từ khắp các nơi cũng len lỏi đến. Tuy rằng hay kể hai khối tôn giáo lớn là Công giáo và Phật giáo, nhưng cũng không thể quên những tôn giáo khác do di dân du nhập vào tính cho đến nay, như: các tôn giáo do người Minh Hương tị nạn nhà Thanh sang, các tôn giáo theo chân người Chăm ở miền Tây (ngoài lãnh thổ Việt Nam) đi vào, các tôn giáo mới du nhập gần đây,… Nói tóm lại, đến đầu năm 2021, kể ra cũng có đầy đủ các tôn giáo và hệ tư tưởng thuộc đủ mọi nơi Đông Tây Kim Cổ đã du nhập vào nước Việt rồi. Không chỉ là ba khối Trung Hoa, Ấn Độ và La Mã nữa mà thôi, mà còn Trung Đông, Đông Á,… và có lẽ cũng phải nói luôn là chủ nghĩa vô thần nữa. Thật không ngoa khi bảo rằng Việt Nam không gì là không có.

Với một bầu tâm linh bẩm sinh dồi dào nơi người Việt, lại chưa được khai thác nhiều, có chăng thì các tầng lớp lãnh đạo dân tộc thời Lý Trần Lê Nguyễn cũng khai thác “nhín nhín” mà thôi, thì nước Việt Nam đúng là một mỏ các vàng cho các dạng tổ chức không chỉ về tôn giáo mà còn về mọi dạng tổ chức niềm tin khác. Tuy nhiên, để khai thác được mỏ vàng tâm linh nơi dân tộc Việt thì không dễ tí nào. Đến giờ, đã qua hai thập niên của thế kỷ 21 rồi, tôi vẫn chưa thấy có thế lực nào thành công trong việc biến dân tộc Việt thành một dân tộc sùng đạo của mình được mặc dù họ thuyết giảng rất nhiều. Tôi biết, sẽ có kha khá người bất đồng với ý kiến này bởi họ thấy người theo đạo ở các tôn giáo ngày càng đông và số lượng người mặc áo xám, áo nâu, hay đeo thánh giá; cũng như số người nam mô, a men, a lah ngày càng tăng,… Nhưng tôi xin bảo với họ rằng, coi vậy chớ không phải vậy đâu à nghe. Mỗi tôn giáo đều trình bày về sự ưu việt của họ đối với các tôn giáo khác, cho dù ngoài miệng, để dĩ hòa vi quý, họ vẫn hay nói “tôn giáo nào cũng tốt”; nhưng dường như các tôn giáo đã quá chú trọng đến số lượng nên số tín đồ đi theo họ ngày càng đông nhưng lòng tin và sự hiểu biết thì không bắt kịp với con số kia là mấy. Nên, một lần nữa: nước Việt không dễ “xơi”.

Để thay cho lời tạm kết phần này, tôi ghi tóm tắt ra những hệ tư tưởng lớn đã định hình văn hóa đạo ở các tổ chức tôn giáo có mặt ở nước ta. Đó là các khối tư tưởng sau:

Khối Trung Hoa: Phật giáo Bắc tông, đạo giáo hỗn dung của người Minh Hương tị nạn nhà Thanh truyền sang. Mang ảnh hưởng văn hóa và chính trị Trung Hoa.

Khối Ấn Độ: Phật giáo nói chung đặc biệt là các phái Nam tông truyền từ Thái và Miên qua. Mang ảnh hưởng văn hóa thần thánh kiểu Hindu ở Ấn pha trộn văn hóa Thái và Miên.

Khối Tây Phương: Công giáo, các phái Tin Lành, và những phái thờ Jesus khác nói chung. Mang ảnh hưởng của nền văn minh Âu châu; trong đó Công giáo thì mang nét cổ kính của La Mã cổ đại, còn Tin Lành thì mang nét hiện đại kiểu toàn cầu hóa chuẩn Mỹ USA.

Khối Trung Đông: Hồi giáo, Do Thái giáo, và các tôn giáo khởi và vẫn giữ tại vùng Trung Đông; mang đặc trưng là… rất Trung Đông.

(*) Khối Trung Đông có thể đặt chung với khối Tây phương nhưng hiện tại cứ tạm tách ra cho đơn giản và dễ hiểu sơ sơ trước.

Bốn vùng tư tưởng lớn nêu trên là bốn vùng ảnh hưởng lên văn hóa chủ đạo của các tôn giáo. Phân ra đặc trưng sẽ thấy, khối Trung Hoa là khối tự do tư tưởng nhất nhưng lại vướng phải sắc tướng nặng nề nhất, thích mê tín, không lạ khi vàng mã cũng từ đây truyền sang nước ta. Còn khối Ấn Độ thì cao siêu nhưng vì quá cao siêu nên tách rời thực tại và thiên về hành xác khổ hạnh. Trong khi đó khối Tây phương lại chặt chẽ về tư tưởng nên không có sự tự do nhiều, nhưng nằm vào cái nôi của văn minh kỹ nghệ nên tuy tư tưởng độc thần bó hẹp nhưng thực tế lại có nhiều ngõ lách để phát triển nhờ vào khoa học kỹ thuật, kết quả là tiến rất bốc. Riêng khối Trung Đông là khối tư tưởng gò bó nhất, và không có được sức của khoa học kỹ thuật giải tỏa như khối Tây phương nên duy tâm rất nặng, đôi khi dẫn đến cuồng si, đổi lại khi không bị cuồng tín thì lại tâm đạo trong sáng, chan hòa và ít sắc tướng hơn hẳn ba khối còn lại.

Và bốn vùng tư tưởng này trên đường đến nước Việt để mưu cầu tương lai cho tôn giáo của mình đã có nhiều trộn lẫn rất đặc sắc. Trong đó có những trộn lẫn với nhau, những trộn lẫn với văn hóa bản địa trên đường thiên di, và những trộn lẫn với văn hóa bản địa của nước Việt ở ngay sở tại.

Câu hỏi là mỏ vàng tinh thần của nước Việt sẽ dành phần cho ai đây?

Friday, April 22, 2022

Tôn giáo trên nước Việt - p1 - Luật chơi mới

Lời ngỏ: Bài này viết vào năm ngoái, số liệu chắc có đổi khác nhưng hẳn là cũng không quá nhiều, vả lại số liệu chỉ là ước chừng mà thôi.

phần 1

LUẬT CHƠI MỚI


Việt Nam vào những năm 2021 có gần 100 triệu dân. Trong 100 triệu dân này, có bao nhiêu người theo tôn giáo nào đó và theo ở một mức độ như thế nào? Hãy cùng tôi tìm hiểu.

Theo như quan sát của tôi, toàn dân Việt có thể chia ra làm hai khối lớn: Khối ở trong tôn giáo và khối ở ngoài tôn giáo. Khối ở trong tôn giáo gồm những người sống theo một tôn giáo nào đó. Những người này có thể là tín đồ được chứng nhận, cũng có thể không được chứng nhận, trên giấy tờ vẫn ghi là không tôn giáo nhưng lối sống thì đậm nét tôn giáo. Vì thế, tôi không dựa vào số liệu được nhà nước cung cấp, mà tôi cho rằng phải tự tìm hiểu lấy.

Có nhiều tiêu chí để phân loại tôn giáo ở Việt Nam.

Nếu phân chia theo địa lý thì có hai nhánh lớn: từ Phương Tây truyền sang, và từ phương Bắc truyền sang. Theo như quan sát thì phương Tây truyền hai nhóm lớn gồm cả Độc thần lẫn không độc thần: đó là nhóm thờ Thượng Đế: trong đó có Cơ Đốc, Hồi Giáo, Tin Lành, và rất nhiều tổ chức tôn giáo khác,… hầu hết thuộc về Độc thần giáo; và nhóm Phật giáo Nam tông thuộc về Không độc thần; tất cả đều nằm về phía Tây trên bản đồ so với nước Việt Nam. Trong khi đó, phương Bắc không truyền tôn giáo độc thần nhưng truyền tư tưởng chính trị và nhân sinh quan mà lâu dần trở thành một thứ như tôn giáo: Khổng giáo, Đạo giáo, Phật giáo Bắc tông; nhóm này còn được gọi là Tam giáo. Để ý các bạn sẽ thấy, Phật giáo xuất hiện trong cả hai cách phân loại, ảnh hưởng rất mạnh lên đời sống văn hóa của nước Việt lên đến hàng ngàn năm nay.

Tựu chung, tôn giáo cho đến trước thế kỷ 20 vẫn là một sản phẩm ngoại lai, do bên ngoài truyền vào nước ta. Sau đó, mới xuất hiện các tôn giáo ra đời ngay trên nước Việt, cụ thể ở miền nam như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài; tuy nhiên các tôn giáo này đều dựa trên tư tưởng từ những tôn giáo có trước mà nguồn gốc bên ngoài nước Việt.

Nhưng tôi nghĩ rằng nếu chỉ lấy mốc thế kỷ 20 thì bức tranh toàn cảnh vẫn chưa đủ rõ rệt. Tuy cái nhìn đó có thể rộng đủ để bao quát hầu hết dãy đất hình chữ S của chúng ta, nhưng cái nhìn đó chưa sâu lắm. Tôi mạo muội đề nghị nhìn sâu hơn bằng cách lấy mốc từ khi Cơ Đốc giáo du nhập vào nước Việt.

Khoảng cuối thế kỷ thứ 16, đạo Cơ Đốc truyền vào nước Việt, tính đến nay họ đã gầy dựng tôn giáo thờ Thiên Chúa được gần năm thế kỷ rồi. Thời kỳ này cũng là thời kỳ có Vua Lê Chúa Trịnh và trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi Cơ Đốc giáo truyền vào nước Việt, họ mang theo một phong cách rất Vatican, rất Tây phương, và rất La Mã đến với ta. Tổ chức tôn giáo của họ rất quy tắc và bài bản, hoàn toàn khác lạ với văn hóa tín ngưỡng của người Việt. Tuy người Việt xưa nay vẫn có lễ nghi trong việc hành sự thờ cúng tín ngưỡng, nhưng tổ chức thành một hệ thống như kiểu Vatican thì phải nói là trước nay chưa từng thấy, nó quá đồ sộ và chặt chẽ. Vốn mang trong mình dòng máu tâm linh đậm đà nhưng tổ chức chặt chẽ thì chưa, nên dân tộc Việt đối với Cơ Đốc giáo như là một mỏ vàng vậy. Nhưng mỏ vàng này không phải là không có chủ, chỗ khó là chỗ đấy. Nắm bắt lấy thời cơ, Vatican đã tìm đủ hết các phương pháp, họ thử và sai, thử và sai, cuối cùng cũng thu được một thành quả rất đáng nể ở Việt Nam. Đó là: theo cuộc tổng điều tra dân số vào năm 2019, lấy trung bình từ các nguồn, Công giáo đạt số tín đồ thứ nhì trong nước, và chiếm 7% tổng dân số, tức vào khoảng 7 triệu người. Đồng Nai là tỉnh có nhiều tín đồ nhất, khoảng 1 triệu người.

Trước sự hiệu quả từ phương pháp tổ chức của Công giáo, các tôn giáo khác ở Việt Nam dần dà cũng học hỏi theo. Thế kỷ 20 đánh dấu sự bùng nổ của các tổ chức tôn giáo, cũng là đánh dấu cho một sân khấu mới, hay gọi là tập phim, màn kịch mới cũng không ngoa; đó là việc các tôn giáo lần lượt bá cáo với thiên hạ về sự hội nhập và chấp nhận luật chơi mới của mình. Những tôn giáo thiên về vô vi như đạo Phật cũng phải thích nghi với thế cuộc này. Phật giáo ở Việt Nam, với một truyền thống lâu đời ở nước Việt cả ba miền Bắc Trung Nam, vào thế kỷ 20, đã tổ chức niềm tin đạo Phật. Thông qua nhiều hội đoàn, cuối cùng họ đến với hình thức giáo hội gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Theo số liệu thống kê vào năm 2019, trung bình từ các nguồn, họ chiếm khoảng 20% tổng dân số, tức khoảng 20 triệu người. Thành phố Hồ Chí Minh đông tín đồ nhất, khoảng 1,5 triệu người.

Phật Giáo Hòa Hảo, tính trung bình các nguồn khoảng 1 triệu tín đồ, chiếm 1% dân số, chủ yếu ở tỉnh An Giang.

Tin Lành giáo, theo trung bình các nguồn cũng khoảng 1,2 triệu tín đồ, chiếm 1,2% dân số, tỉnh Đắk Lắk có nhiều tín đồ nhất với khoảng 200 ngàn người.

Cao Đài giáo, tính trung bình các nguồn có khoảng 3 triệu triệu tín đồ, tương đương với 3% dân số, Tây Ninh là nơi có nhiều tín đồ nhất với hơn 500 ngàn.

Các tôn giáo khác có số tín đồ ít hơn nhiều. Tất cả hợp lại chiếm khoảng 1/3 tổng dân số cả nước. Tuy nhiên, đây chỉ là số liệu thống kê ước chừng. Mỗi tôn giáo đều ghi ra con số có phần đã được tô điểm thêm cho họ trông có vẻ rạng rỡ trước các tôn giáo bạn, còn nhà nước thống kê thì luôn ít hơn con số đó vì có nhiều người theo tôn giáo nhưng ghi “không” vào mục tôn giáo trên giấy tờ. Và đối với những người có là tín đồ của một tôn giáo, thì bao nhiêu trong những con số đó là người hành đạo nhiệt thành? Giống như câu hỏi dành cho các hãng công nghệ vậy, số người dùng tuy cao nhưng bao nhiêu trong số họ là người dùng thường xuyên hoạt động (active users)? Để nói cho rõ một con số thì e rằng không có khả năng thực hiện. Mạnh và quyền lực như nhà nước mà còn không thể thống kê chính xác được thì một người dân bình thường làm sao làm được? Vậy nên, tôi nghĩ rằng tính chính xác 100% phải bị dẹp qua một bên, thay vào đó là độ chính xác chừng 80% mà thôi, nếu tốt hơn nữa là 90%, thậm chí tôi vẫn còn thấy để đạt những sự chính xác này cũng là khó lắm rồi. Và không thể nào chính xác bằng cách hỏi từng người rồi ghi vào sổ được, mà phải quan sát. Và con số tỷ lệ sẽ phản ánh những tín đồ có sinh hoạt tôn giáo mà thôi, một điều mà chính tôi cho rằng thiết thực hơn là con số thống kê trên giấy tờ mà đã bao gồm cả những tín đồ ít sinh hoạt cho đến không sinh hoạt gì cả.

Suốt nhiều ngàn năm, nước Việt không có một tổ chức tôn giáo nào, kể cả khi những hệ tư tưởng thâm nhập vào tầng lớp vua chúa quan lại, họ cũng không đem những hệ tư tưởng đó tổ chức thành giáo hội, cho đến khi Cơ Đốc giáo bên Tây du nhập vào nước ta, họ đã thay đổi luật chơi. Có người nói văn hóa nguyên thủy của nước Việt nằm ẩn sâu trong lớp áo Tây phương, lớp áo Trung Hoa, và cả lớp áo Phật giáo nữa. Đó chính là lý do tôi dùng từ “thay đổi luật chơi” vì chỉ có luật lệ thay đổi thôi, tức từ không có tổ chức giáo hội chuyển thành có tổ chức giáo hội, chứ còn ngoại lai thì ai cũng ngoại lai.

Như có nói, các tôn giáo tạm phân ra hai nhóm. Nhóm độc thần giáo và nhóm không độc thần.


Bảng trên chứa danh sách của 16 tôn giáo đã được phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam do nhà nước CHXNCNVN cấp, tính đến năm 2020. Như có thể thấy, hai bên có số đơn vị tôn giáo ngang nhau, tức 8 tôn giáo độc thần, lượng tín đồ tính tương đối là 12 triệu; 8 tôn giáo không độc thần, lượng tín đồ ước tính là khoảng 22 triệu. Các tôn giáo độc thần có đặc điểm là mang phong cách Âu châu và từ Âu châu truyền sang, xoay quanh việc thờ Đấng Thiên Chúa toàn năng. Các tôn giáo không độc thần có đặc điểm là thuộc hệ thống tam giáo và chủ yếu nhất là Phật giáo, từ Trung Hoa truyền sang. Đáng chú ý là tôn giáo Cao Đài, hợp nhất tam giáo và Thiên Chúa với nhau, tạo thành một cách cục tam giác mà phần đáy là tam giáo Phật-Lão-Khổng, phần chóp là Thiên Chúa; nghĩa là dùng người trong tam giáo để thờ Thiên Chúa vậy.

Ngoài ra, còn một đặc điểm nữa về hai khối tôn giáo này kể cũng đáng nói ra như sau: nhóm các tôn giáo độc thần khó dung hòa, vì mỗi tôn giáo đều cho rằng Đấng của mình mới là Tối Cao nhất; trong khi đó nhóm các tôn giáo không độc thần dễ dung hòa với nhau hơn vì không có ý thức hệ về một Đấng độc tôn nên họ dễ hòa nhập và lẫn lộn với nhau, tuy nhiên tổng thể thì chịu ảnh hưởng nặng từ lối tu tập kiểu Trung Hoa. Vậy tính ra, dù là độc thần hay không độc thần đều có điểm chung là “hàng ngoại”. Mà chúng ta thừa biết là dân Việt Nam thích hàng ngoại như thế nào rồi đó.

Có một câu hỏi: văn minh nguyên thủy sâu xa, ẩn tàng nhất trong hồn nước Việt là gì? Tức sau khi gột rửa hết những ảnh hưởng của Tây phương, của Bắc phương, dân tộc Việt còn lại gì? Tôi chưa trả lời câu hỏi này được, tôi cũng chưa từng thấy ai trả lời được câu hỏi này. Và tôi cảm thấy bình yên và thoải mái vì câu hỏi này chưa được trả lời. Có lẽ cứ để thiên hạ đoán già đoán non tùy ý vậy. Hồn Việt là gì, ở đâu, có hình tướng không, nói tóm lại rốt cuộc nó là cái gì mới được? Nếu nó phải ở nơi sâu thẳm không bao giờ lộ diện để cho dân tộc, dù có kinh qua bao nhiêu cuộc bể dâu đi chăng nữa, vẫn được trường tồn, 5000 năm trước đã có nước Việt, 5000 năm sau vẫn có nước Việt, và có thể con số 5000 năm cũng còn ít, thì, nếu phải như vậy, thì thôi, cứ để nó thế.

Monday, April 18, 2022

Từ chuyện núi rác đến xu hướng không sinh con của thế kỷ 21

Nhân đọc bài khu Cam Ly, thuộc Đà Lạt, Lâm Đồng, nước Việt Nam, có một núi rác, vì mưa lớn mà tràn xuống đe dọa vùi lấp vườn trồng rau của dân, tôi cao hứng viết bài này. Câu chuyện được phóng viên báo Người Lao Động đăng lên Youtube vào ngày 7/7/2020.

 


Khi nghe chuyện xong, tôi liền suy nghĩ không ngừng về nhân tình thế thái ngày nay, tại sao lại có cái núi rác khổng lồ đó, và nhiều núi rác khác ở thành phố HCM, ví dụ như khu Đa Phước nổi tiếng chẳng hạn. Chúng ta đã sinh đẻ rất nhiều….. con người ăn mặn đái khai và xả rác. Cái văn hóa của con người trong mấy thập kỷ qua là ăn uống và ỉa đái, tiêu thụ và xả rác, làm tình lang chạ và đẻ xong thì phó mặc bọn trẻ cho đời.

Không nhớ rõ năm 2019 hay là năm nào nữa, nhưng mà cũng không lâu lắm đâu, báo chí đăng chuyện khu Phú Mỹ Hưng bị gió thổi mang theo mùi rác thúi vào nhà ô uế và khó thở đến nỗi phải đóng cửa kín mín, nhét giẻ quanh khe cửa mà vẫn không hết mùi. Khu phố nhà giàu hay nhà nghèo đều bị rác thải tấn công không theo cách này thì cách khác. Chỗ nào không sống chung với rác thì cũng phải hửi mùi rác từ nơi khác kéo tới, và nếu như ai chưa từng trải qua chuyện rác rến này thì cũng đừng vội mừng khi vẫn đang sống ở nước Việt Nam, bởi không thể chắc chắn rằng sẽ không bị những chuyện này xảy đến với mình, hãy cảnh giác và chuẩn bị tinh thần.

Ý chính của bài này là: Đẻ nhiều làm gì mà toàn đẻ nhưng không dạy dỗ cho ra hồn, để lớn lên, chúng nó ăn nhiều xài lắm, xong rồi phóng uế và xả rác là giỏi. Con người quá đông, sức tiêu thụ quá lớn, sản phẩm làm ra quá nhiều và thế là rác chất thành núi. Bao bì, giấy gói, bịch ni lông, nhãn mác, chai lọ, thùng giấy, thùng nhựa, thùng xốp, hộp carton, hộp thiếc, thau mũ, chén đĩa melamin, giày dép xốp, vỏ xe, kim chích, ống hút, pin, đồ điện phế thải, linh kiện điện tử, máy móc cũ,…, tã giấy em bé, băng vệ sinh phụ nữ, bao cao su,... Con người đã đẻ quá nhiều và xả rác quá nhiều rồi, chúng ta nên hãm việc đẻ lại, hành tinh này chưa đủ rác hay sao? Rất may là trong thế kỷ 21 này, có một xu hướng rất nhân văn là giảm sinh con, thậm chí là không sinh đẻ. Xu hướng này lan rộng ở châu Âu và Á châu cũng theo rất mạnh, nghe nói ở Hàn Quốc, tỉ suất sinh đã dưới 1 con trên một phụ nữ rồi. Riêng Việt Nam, tỉ suất sinh là 2,09, dưới mức thay thế một chút, thậm chí là dưới 2 trên toàn vùng Tây Nam bộ và thành phố Hồ Chí Minh. Nhưng xu hướng giảm sinh ở nước ta chưa đủ để cân lại cái núi rác mà bấy lâu nay chúng ta đã thải ra. Nghĩa là nếu như bạn có con, thì con của bạn sẽ có nguy cơ cao là phải sống chung với rác, rất nhiều rác trong tương lai.

Nhiều người bảo không sinh đẻ thì làm sao duy trì nòi giống, tôi lại bảo nếu đẻ quá nhiều thì cũng không thể duy trì nổi nòi giống đâu. Cả hai thái cực đều dẫn đến diệt vong. Có người lại đem chuyện cơ cấu dân số vàng ra để bàn, rất tiếc nhưng bây giờ là chuyện sống chết, chứ không phải chuyện vàng bạc nữa. Dân số Việt đã có một thời kỳ vàng son, việc không tận dụng được nó để đưa đất nước lên hàng phú cường được là lỗi của …!! Nói chung là không phải lỗi của dân, và giờ dân đã hết “trứng” rồi.

Có người còn bảo đẻ con để báo hiếu cha mẹ, ông bà tổ tiên; tôi thì bảo đẻ ra một đứa con trong thời đại giáo dục tồi tệ này nhỡ mà nó mất dạy và hư hỏng thì coi chừng mang nhục thêm. Thà dòng họ kết thúc ở đây và để lại một vết tích đẹp cho hậu thế ca ngợi, còn hơn kéo dài, dai và dở, để có ngày thiên hạ chê cười động đến tổ tiên thì còn khổ hơn.

Có người bảo đẻ con là trách nhiệm với xã hội, tôi lại bảo muốn thể hiện trách nhiệm với xã hội thì trước hết hãy quan sát nó đang ở trong tình trạng nào và cho nó đúng cái nó đang cần và đang thiếu, ví dụ như: sự trung thực nè, sự quan tâm giữa người với người nè, nghĩa khí nè, và đừng có đứng đái vô tường nhà người ta hay quăng rác bừa bãi xuống cống nữa nè, vân vân và vân vân,…. Và hãy cho xã hội bớt con rơi nữa nè, bớt hoặc không có những đứa trẻ bị bỏ trong rừng, trên hố ga, trong thùng rác hay trước cửa nhà người ta, đừng đẻ con rồi quăng cho chùa và trại trẻ mồ côi nữa,… Thế nào? Và trên hết, trong một xã hội ngập ngụa rác thải theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng, với đầy rẫy tội ác và sự ghê tởm mà các thế hệ trước và hôm nay đã và đang gây ra, chúng ta đừng ham hố đẻ bọn trẻ ra để mau chóng đổ lên đầu chúng nó cái đống trách nhiệm mà lẽ ra mình phải gánh cho nó để đáng mặt làm cha mẹ, làm ông bà, làm thế hệ tiền bối của lũ trẻ. Nếu xã hội đã có nhiều người vì trách nhiệm với xã hội mà sinh ra trẻ em, thì thiết nghĩ cũng cần phải có nhiều người vì trẻ em mà không sinh chúng ra.

Có người lại bảo trời sinh voi sinh cỏ, tôi thỉ chỉ muốn hỏi, thế ai là voi ai là cỏ? Tôi chỉ muốn biết xem liệu bạn hiểu câu thành ngữ đó sâu sắc đến mức nào thôi. Nếu bạn cho rằng nó đúng cũng được, nhưng bạn nói thử xem con bạn sẽ làm voi hay là con bạn sẽ làm cỏ cho con của kẻ khác nó làm voi nó ăn? Với câu thành ngữ trên, bạn tin hay không tin cũng đều đúng cả. 

 

Saturday, April 16, 2022

Những vấn đề mà trẻ em Việt Nam trong tương lai phải gánh chịu (nếu cứ tình trạng này)

1. Bệnh thừa cân béo phì

Nếu bạn lên google gõ chữ “tỷ lệ thừa cân béo phì ở Việt Nam” rồi thêm con số chỉ năm vào thì sẽ ra một đống kết quả từ các trang báo lớn nhỏ, các trang thông tin của chính phủ và viện dinh dưỡng đều kêu la về số người và trẻ em bị thừa cân béo phì tăng cao và tăng nhanh trong các năm gần đây. Vào năm 2019, báo người lao động đưa tin trẻ em béo phì ở thành phố HCM là trên 40%. Cũng trong năm ngoái, báo VnEconony có bài viết rằng tỉ lệ người béo phì ở Việt Nam là 3,6% trên tổng dân số. Tôi cam đoan rằng trong tương lai, con số người béo phì và tỉ lệ béo phì sẽ còn tăng nữa. Và đó là chỉ nói về béo phì thôi, còn số người thừa cân, tức dòm họ thấy mập thôi chứ chưa đạt mức béo phì bảo đảm là nhiều lắm lắm. Khi bạn biết chắc những con số này sẽ tăng trong tương lai thì nghĩa là bạn biết ai sẽ rơi vào nhóm này rồi đó, đó chính là trẻ em của ngày hôm nay.

Béo phì sẽ làm một người gặp nhiều loại bệnh về tim mạch và trì trệ, ngoại hình xấu và sinh lý yếu kém, và dĩ nhiên là thể chất đã kém thì tinh thần làm sao tốt được, ngu dốt sẽ theo chân béo phì tiếp tục đeo bám nước Việt Nam vào tương lai làm cho dân tộc tiếp tục kém cỏi.

Nhưng bạn sẽ vẫn tiếp tục chứng kiến nhiều người mẹ ngu dốt ép uổng con mình ăn, và ăn, uống sữa và uống sữa thật nhiều, đổi lại đứa bé sẽ trông như một cục bột u nần và đần độn, mắt híp, má phính, thần sắc bị lu mờ vì con người đa phần là mỡ thì lấy đâu ra thần thái. Thần thái của mỡ ngoài ở vú đàn bà ra thì chẳng có chỗ nào nó đẹp được cả. Bệnh béo phì ảnh hưởng đến trí tuệ của con người tai hại đến nỗi bây giờ có nhiều người phụ nữ có sở thích những đàn ông bụng béo. Thưa các bạn, còn gì phản lại sự sống cho bằng việc một người phụ nữ thích đàn ông bụng béo cơ chứ. Hoàn toàn phản lại bản năng sinh tồn của loài người, đầu óc của những phụ nữ này đã bị xâm chiếm và thống trị bởi mỡ.



Khi đọc báo, và đặc biệt báo chí thời nay, hãy đừng vội tin nhé, có thể bài báo cũng chỉ là sản phẩm lỗi của một nghiên cứu lỗi và được lan truyền bởi những kẻ muốn gây thêm tội lỗi cho đời. Chúng ta phải sáng suốt xem một ý kiến nào đó có đi ngược lại với chọn lọc tự nhiên không, nếu nó đi ngược lại với chọn lọc tự nhiên thì nó phải bị đào thải chứ không phải là ca tụng. 

2. Rác thải

Hệ thống cống và lọc nước thải ở Việt Nam hiện nay là không thể tin tưởng được. Các cơ sở xí nghiệp đút lót để qua mặt cơ quan môi trường để xả thải ra hàng đống chất độc hại làm cá chết và con người thì không sống nổi, còn cơ quan môi trường thì không biết nó có phải là cơ quan bảo vệ môi trường hay là cơ quan bán đứng môi trường nữa vì thời gian nó tồn tại cũng là thời gian ô nhiễm sinh ra và tăng mạnh. Một tình tạng như vậy kéo dài vào tương lai, thì hỏi là trẻ em Việt Nam có thể trưởng thành khỏe mạnh được hay không? Ngoài ra, sự đô thị hóa và ngành buôn bán lẻ khiến cho người dân dễ dàng mua được những loại chất tẩy rửa mạnh và khi dùng thì xả thẳng ra đất đai, từ đất đai đó trồng trọt nên rau củ quả cho xã hội ăn. Sức tiêu thụ của khối dân đông là rất mạnh, nhưng lối sống mua về và đựng trong các thứ bao bì làm núi rác tăng chóng mặt, ngay bây giờ đây xã hội đã đang đối mặt với thảm họa rác thải rồi, thì chừng 10 năm nữa thôi liệu sẽ còn tồi tệ đến thế nào nữa. Bọn trẻ lớn lên trong tình cảnh này làm sao nên người được? Thể chất bị ảnh hưởng tiêu cực vì rác thải mang đến rất nhiều chất độc, rồi khói thải củng thế, nước thải cũng thế, chất độc khắp nơi và chúng nó phải sinh trưởng trong một môi trường như vậy đấy, làm sao khỏe mạnh được? Rồi khi nó sinh bệnh, tinh thần nó cũng tiêu hao, đầu óc nó lệch lạc, hỏi làm sao mà nên người được?

Nhân nói đến rác thải, nó không chỉ là những chai, lọ và cứt đái vứt đi mà thôi. Hãy nhập chung cái đống nợ công, một cơ chế quan liêu thối nát và một lề thói xin cho tai hại vào chung với rác thải đi. Vì những thứ này tuy không hữu hình nhưng lại có đủ tính chất của rác thải, đó là thối nát, mục ruỗng và không còn dùng được nữa. Ôi cái đống nợ công đó, đống rác đó sẽ ập lên đầu của một đứa trẻ trước hết thảy mọi thứ khác khi nó vừa chào đời.

3. Các thứ gây nghiện

Số phận đã an bài cho bọn trẻ của thế kỷ đầu trong thiên niên kỷ thứ 3 sau Công Nguyên rất rất nhiều thứ gây nghiện: ma túy và các dạng thuốc an thần, mãi dâm, cờ bạc, rượu, mỹ phẩm và phẫu thuật thẩm mỹ, đồ dùng công nghệ, idol, và….. gà rán.

Ma túy làm đầu óc loạn thần, còn mãi dâm làm hao tổn sinh lực. Con người có ba thứ quan trọng là sinh lực, khả năng tư duy và một dục vọng vừa đủ để đối phó với đời. Hai thứ đầu tiên là cực kỳ quan trọng và nói lên đẳng cấp tồn tại của một người, càng dồi dào càng tốt, thì lại bị ma túy và mãi dâm phá hoại. Thỏa mãn cơn dâm quá thì yếu người, chơi ma túy quá thì đầu óc điên loạn. Đã yếu mà còn ngu nữa, nếu như cái thứ ba là dục vọng mà cao thì xem như trở thành một kẻ nguy hiểm cho xã hội, khả năng hại mình hại người là rất cao, sự tồn tại giống như một quả bom di động có thể phát nổ bất cứ khi nào.

Cờ bạc và rượu là hai thứ gây nghiện tuy cũ nhưng chẳng những không lạc hậu mà còn vẫn tiếp tục thịnh hành, đặc biệt là trong thời đại bia bọt đầy rẫy ở Việt Nam hiện nay. Ai nói cấm bia, cấm nhậu bằng cách phạt nồng độ cồn gì đâu chứ tôi thấy mấy quán nhậu ở địa phương mình ở vẫn đông nghẹt khách vào cuối tuần nè. Trong khi đó thì các hình thức cá độ ngày càng công nghệ tiên tiến và hút con người vào đó. Khi kinh tế yếu kém, đồng tiền khó kiếm và việc làm thiếu, con người dư thời gian nhàn rỗi và thôi thúc cần tiền tăng cao do nhu cầu cuộc sống, cơ hội thì ít ỏi, họ sẽ bị tiếng gọi của những dịp kiếm tiền bằng đỏ đen đánh cược thu hút.

Mỹ phẩm và thẩm mỹ đánh mạnh vào khối con gái mới lớn. Ham muốn được đẹp theo đúng chuẩn mà báo chí và xã hội mạng lan truyền, đầu óc non nớt của chúng nó làm sao chống lại nổi cám dỗ lao vào lĩnh vực làm đẹp và làm đẹp một cách điên cuồng. Rồi một ngày nọ nhận ra cơn điên đã khiến bản thân đánh mất chính mình thì đã quá muộn.

Công nghệ và điện thoại là tương lai của trẻ em, tuy không phải là điều tốt đẹp nhưng là điều khó tránh khỏi. Rồi đây, đời sống của trẻ em khi chúng lớn lên sẽ phụ thuộc gần như 100% vào công nghệ và các thứ có màn hình để chúng dán mắt vào và bỏ mất cuộc sống của chính mình.

Nghiện dù là thứ gì đi nữa, bản chất cũng là con người tìm chỗ bấu víu để tồn tại. Họ cảm thấy bơ vơ lạc lõng từ trước và thứ gây nghiện làm họ có cảm giác được thỏa mãn hoặc được yên ủi. Họ tìm thấy trong cơn nghiện cảm giác tự do được là chính mình mà bình thường cuộc sống khắc nghiệt tràn ngập phán xét và dạy đời sáo rỗng không cho họ. Và nghiện sau cùng là một thứ cát lún mà một khi đã bị sa vào thì rất khó thoát ra. Lúc này, người ta thỏa mãn cơn nghiện chỉ vì để lấp đầy cảm giác trống rỗng.

Và trong tất cả những cái nghiện mà thế hệ trẻ hôm nay đang mắc phải, chính là nghiện thần tượng. Đây là một dạng ma túy tinh thần, nó không gây loạn não như kiểu ma túy theo định nghĩa của cơ quan chức năng, mà nó gây một tác dụng tương tự lên cá tính của con nghiện. Người trẻ mới lớn có thôi thúc đi tìm một nơi để thấy mình có nơi có chốn, tiếng Anh người ta hay bảo là tìm một nơi để thấy mình “belong” vậy. Thì nơi những thần tượng mạng là nơi mà bọn trẻ tìm thấy sự thỏa mãn này. Và chúng nó khi tôn sùng một thần tượng nào đó, đã tạo ra một sự bóp méo lên cá tính của chính mình và cả thần tượng. Một mặt chúng nó phải thay đổi thích nghi với môi trường mà mình đã gọi là nơi chốn “thuộc về” đó, một mặt nó áp lực làm thần tượng phải thích nghi để nương theo người hâm mộ vì thu nhập và danh tiếng của thần tượng phụ thuộc vào những người hâm mộ này. Và cũng không ngạc nhiên khi cả hai phía đều toàn là người trẻ cả, những đối tượng non nớt và dễ bị dẫn dụ bởi bọn trùm sò đầu nậu cầm trịch vừa già vừa ác vừa tham, lại còn ích kỷ và áp đặt nữa. Kết quả là cả hai, người hâm mộ trẻ và các idol trẻ đều đánh mất bản thân, tính chân phương và con người thật của mình. Và cái đánh mất đó là một thứ năng lượng và trở thành tiền và quyền rơi vào tay của bọn lão làng cầm trịch ở trên.

Tổng hợp ba thứ tai hại trên đánh lên con em của chúng ta, thế hệ mầm non và thiếu niên hiện nay, chừng mười năm nữa thôi, chúng nó sẽ biến thành những cái xác sống không hồn. Là một thứ pin cho trùm cuối tha hồ bòn rút, một viễn cảnh na ná y như phim Ma Trận mà tài tử Keanu Reeves đã đóng vào những năm 2000 mô tả. Bạn có thấy trên không gian mạng và truyền hình hiện nay ở Việt Nam cũng như thế giới, tràn ngập nội dung đánh mạnh vào trẻ em và thiếu niên không? Để dùng trẻ em như pin ngay từ sớm cho chúng quen dần đến lớn, các ông trùm cho sản xuất nội dung trẻ hóa để phù hợp với thị hiếu hời hợt và kinh nghiệm non nớt của trẻ, nhưng lại cho dâm dục hóa lên để kích thích ham muốn. Tưởng tượng khi ham muốn dâng lên mà chưa đủ trưởng thành và chín chắn để thỏa mãn với sự hiểu biết và ít gây hại cho mình, thử tưởng tượng xem, dĩ nhiên chúng nó sẽ dồn hết cho những ai giúp chúng giải tỏa ham muốn đó, và các ông bầu sẽ cung cấp ngay một lô thần tượng cho chúng tha hồ chọn lựa dù cũng na ná nhau cả. Việc nhắm vào trẻ em và thiếu niên để khai thác năng lượng của chúng phải bị xem là một thứ tội ác ghê rợn, nó làm sinh ra cái bệnh mà người ta gọi là xác sống tưởng chỉ thấy trên phim thôi nhưng đâu có ngờ là nó thực ra tồn tại ngay trong đời thực rồi đây này.

Cha mẹ của lũ trẻ ngày hôm nay thân mình lo chưa đâu vào đâu mà đã đẻ ra con trẻ rồi nên bọn trẻ vì thế mà thiếu thốn đủ đường. Chúng nó thiếu những dưỡng chất tốt, thừa thãi những thứ không nên có nhiều. Khi chúng lớn lên những cái xấu từ bộ gen xấu do cha mẹ tuyền cho phát huy ra, thời thế lại khắc nghiệt, và chúng sẽ thấy cái bể khổ gọi là cuộc đời nó khổ sở đến thế nào. Vì quá thương xót cho lũ trẻ này, tôi không thể im miệng được. Nói thật tôi chán cảnh cha mẹ đẻ con vì mình, vì ông bà, vì dòng họ, và nhảm nhí hơn là vì xã hội. Có điên không, chỉ là một đứa trẻ yếu ớt trong cuộc đời nghiệt ngã mà bạn bắt nó phải vì hàng đống thứ kia a? Xã hội có thương gì trẻ con không mà bắt trẻ con vì xã hội?

Thursday, April 14, 2022

Ai mới là kẻ cần phải phẫu thuật thẩm mỹ?

Lại nói về cái đẹp nhưng lần này ở một khía cạnh khắc nghiệt hơn vì bản chất vấn đề nó vốn như vậy. Đó là chuyện làm đẹp bằng phẫu thuật thẩm mỹ. Hôm nay đọc các thống kê và tìm hiểu về thị trường dịch vụ phẫu thuật thẩm mỹ ở thế giới cũng như ở Việt Nam, tôi viết bài này để gióng lên một tiếng nói dù cho nhỏ nhoi, dù cho chỉ có một người đọc hay nghe thấy thôi cũng được. Tôi sẽ hỏi thẳng một câu là: “Tại sao bạn phải cắt gọt bản thân mình trong khi bạn không hề bị bệnh gì cả?”. Tôi biết rất nhiều bạn gái trẻ, và cả con trai nữa tự ti về gương mặt và vóc dáng hay làn da của mình. Nhưng nguyên tắc bất di bất dịch là nếu như bạn không có bệnh thì bạn không phải đi phẫu thuật, thậm chí nếu như có bệnh thì ưu tiên chữa bằng những phương pháp khác trước rồi cuối cùng mới cần phải phẫu thuật. Khi cái nguyên tắc này bị vi phạm thì xã hội có vấn đề. Xấu xí không phải là một loại bệnh, việc con người ta chỉ trích một người chỉ vì người đó có ngoại hình xấu mới là một loại bệnh cần phải chữa trị. Đối tượng phải đi phẫu thuật thẩm mỹ không phải là một cá nhân có gương mặt xấu mà là cái xã hội này. Cái xã hội đã bị ung thư là làm đau con người sống trong nó. Cái xã hội mục ruỗng và tội lỗi, nó mới chính là kẻ phải đi phẫu thuật chứ không phải bất kỳ kẻ xấu xí ngoại hình nào hết. Con người bị ung thư tâm trí nặng đã xây dựng nên một xã hội thần thánh cái đẹp bề ngoài thái quá đến nỗi khiến cho xã hội bị ung thư theo và gây ra nỗi đau không đáng có cho những người lương thiện khác không may sinh ra với một hình hài xấu. Những người bề ngoài tuy xấu nhưng lương tâm trong sạch, cư xử thiện lành và có tài năng sẽ phải hứng chịu những dư luận ác ý và sự mất nết của bọn người tôn thờ nhan sắc_một thứ vốn dĩ không đáng để thờ mà cũng thờ. Đây là một sự điên loạn của xã hội, vậy mà nhiều kẻ lại bên vực nó, bên vực đến nỗi coi khinh sự lương thiện của con người. Tôi tưởng người ta chỉ nên dè bỉu sự bất nhân, ai lại dè bỉu ngoại hình. Cái gọi là “vì bạn đẹp nên bạn vô tội” là một chuyện hoang đường chỉ có được chủ yếu trên mạng nhờ sự lăng xê ngành thẩm mỹ để các thẩm mỹ viện kiếm tiền và giới tấu hài dùng làm tư liệu để biểu diễn mà thôi, nếu bạn tin vào điều đó thật thì họa chờ bạn.

Thôi, nói dài dòng mà làm chi, để bữa khác nói tiếp. Tóm lại là cái xã hội mà một người bất luận nam nữ vì xấu ngoại hình mà phải khổ sở vì điều đó là một xã hội tồi tệ, mục nát, bị ung thư và cần phải phẫu thuật cho cái xã hội đó, chứ không phải là một con người nào hết. Trong phương pháp trị liệu ung thư, người ta hay dùng cách hóa trị, xạ trị và phẫu thuật, ngoài ra còn có đông y dùng cây cỏ làm thuốc uống nữa; tuy nhiên hướng trị liệu vẫn là trục bỏ tế bào bị hư hỏng đi và chặn không cho nó lây bệnh cho các tế bào lành mạnh khác. Nên phẫu thuật cho cái xã hội này nghĩa là đào thải bọn người tôn thờ nhan sắc bề ngoài, đào thải cái bọn chả đẹp bao nhiêu nên cứ phải tận dụng từng khoảnh khắc xấu xí của kẻ khác để dìm người ta, đào thải bọn kinh doanh dịch vụ thẩm mỹ kiếm tiền trên nỗi bất an về nhan sắc của kẻ khác và thậm chí còn ác hơn là chi tiền để làm truyền thông quảng bá cho nét đẹp dao kéo và những chuẩn mực nét đẹp mà không một bà mẹ tự nhiên nào có thể trao cho con của mình được để xã hội phải cần tới bàn tay quỷ ám của họ mới có cái đẹp đó, nhờ thế bọn họ sẽ luôn luôn có khách hàng. Đào thải bọn ca sĩ diễn viên và người nổi tiếng không có chữ sĩ và cũng đếch có tài mà chỉ đi lên nhờ nhan sắc. Và trên hết hãy đào thải bọn người ngu dốt và bất nhân để chúng khỏi bình luận và phán xét cái đẹp. Thử tưởng tượng, cái đẹp trong con mắt của một kẻ không có nhân đạo, nhận thức tầm thường và nhìn đời phiến diện thì là cái đẹp gì? Cái xã hội điên loạn vì nhan sắc mới là cái cần phải chỉnh sửa, nếu có đập cái gì đi để mà xây lại thì chính là đập cái xã hội đó đó, chứ không phải là khuôn mặt của người ta.

Điên loạn vì làm đẹp

Kể ra chắc không có thời nào mà nhan sắc nó quyết định lớn lao như thời nay: những thập niên đầu của thế kỷ 21, và sẽ còn nữa chứ không dừng lại ở đây đâu. Ai sinh ra mà không đẹp hay đẹp thì cũng đều phải chuẩn bị tinh thần vì cái đẹp thời nay tưởng như không bao giờ đủ cho người ta thỏa mãn cả. Họ cứ muốn đẹp hơn, đẹp hơn nữa và đẹp muôn phần hơn nữa, chừng nào thành thế này họ mới chịu:



Đã từng có một thời gian, phụ nữ đẹp vì chính họ, nó chỉ đơn giản là việc họ đẹp sẵn rồi và cái đẹp nó toát ra dung mạo và hoạt động sống, lối ứng xử hằng ngày. Họ gần như không cần phải làm gì cả, đơn giản họ là phái đẹp. Và rồi, đàn ông xuất hiện trong đời người phụ nữ. Vì để chiều lòng đàn ông, phụ nữ đã hướng cái đẹp sẵn có của mình theo chiều hướng mà đàn ông ưa thích. Kết quả khá là mỹ mãn và cuộc đời thêm phần thú vị vì khi được đàn ông yêu thích, chị em phụ nữ cảm thấy yêu đời hơn, họ lại càng đẹp mặn mà và thắm thiết. Thế là một cuộc cách mạng mới đưa xã hội lên một nấc thang tiến hóa, đàn ông trở thành người quyết định thế nào là một phụ nữ đẹp. Nhưng cuộc đời không bao giờ là tĩnh tại, nó cứ tiến lên mãi. Đến một ngày nọ, phụ nữ học được thói phân tích và ứng dụng lý luận vào cuộc sống từ đàn ông, họ quan sát và ghi nhận vạn sự xung quanh mình, nhưng nhìn chung là chú tâm nhất vào khoản quan hệ nam nữ, chuyện hôn nhân gia đình. Họ phát hiện ra một điều rằng, đàn ông bị quy định vào sự phải lập gia đình và nối dõi nòi giống của mình. Điểm yếu chết người của đàn ông đã bị phụ nữ phát hiện. Thế gian điên loạn khởi đầu từ đây.

Bởi vì đàn ông phải lấy vợ và sinh con khi đến tuổi trưởng thành, dù cho họ chỉ có thể lấy được một vợ hay nhiều vợ, thì cũng là họ chỉ có thế lấy một số vợ nhất định chứ không thể lấy tất cả được; nên đàn ông sẽ buộc phải chọn lựa. Khi phải chọn lựa thì họ sẽ chọn người họ thích nhất, có đúng thế không? Không, đó chỉ là ảo tưởng mà thôi, trong thực tế thì đàn ông chọn người họ thấy ổn nhất trong số những người họ biết. Chỗ chết là đây. Từ khi phụ nữ biết điều này, họ đã suy nghĩ và phát hiện ra rằng, để lấy được chồng thì không chỉ có một cách là làm đẹp mình cho ưng ý người đàn ông, mà còn có cách thứ hai, đó là chỉ cần làm đẹp đủ để trở thành người được nhất trong số các ứng cử viên tiềm năng là được. Và cách thứ hai hợp thời hơn do dân số tăng, va chạm nhiều và cạnh tranh dần lên và nhiều tư tưởng lề thói khiến đàn ông phải tuân theo chứ không được tự do sống theo ý nguyện. Thế là từ đó, từ chỗ làm đẹp cho đàn ông ngắm, phụ nữ chuyển sang làm đẹp để hơn người phụ nữ khác. Ban đầu họ còn để ý đến cảm xúc của người đàn ông coi coi có thích không, nhưng dần dần, như có nói lúc nãy, cuộc đời luôn vận động chứ không bao giờ tĩnh tại cả, phụ nữ bây giờ đã lơ luôn cảm xúc của đàn ông, họ chỉ chăm chăm hơn con khác, chăm chăm làm sao để mình luôn nổi bật nhất so với các con đàn bà khác, kể cả bằng những cách thức không tưởng nhất.

Ngày hôm nay, không còn ai hiểu nổi phụ nữ làm đẹp vì cái gì nữa. Đàn ông thì chỉ biết chấp nhận thôi, chuyện đã vượt ra khỏi tầm tay của họ rồi.

Phá thai là lỗi do đàn ông trước

Phá thai tuy tàn bạo, và có một mức độ vô nhân đạo của bản thân nó, nhưng nó không nhiều đến mức để cho nhiều kẻ đạo đức giả lên lớp dạy đời sáo rỗng thiên hạ. Nó còn chưa nhiều bằng tội ác của cái giới chống phá thai nhiều nhất gây ra nữa là, và nó lại càng không phải là đầu mối của tội ác như nhiều kẻ rao giảng để nhằm trút tội của mình lên đầu kẻ khác.

Trên bình diện vĩ mô, phụ nữ là giới tính nền, phản ứng lại với nam giới và xã hội do nam giới tạo ra. Nam giới sinh ra với một sức mạnh thể chất và tài cầm binh, khiến họ có thể ép người khác vào quân ngũ và chết cho mục đích chính trị của xã hội cũng do nam giới thống trị. Không có quốc gia nào có quy chế chính trị bài bản lại cấm quyền tuyên bố chiến tranh và quyền bắt quân dịch của một chính phủ_cái mà hiện nay đa phần vẫn là nam giới nắm chủ chốt. Và gần như các cuộc chiến tranh xảy ra xưa nay đều là do sai lầm của nhà cầm quyền gây ra. Các thế lực chính trị ăn ở tùy tiện, không biết cách ứng xử và đôi khi là tự bày chuyện ra để gây chiến hòng chia chác thế giới và thị trường tiêu thụ mà thôi, nhưng vì họ bọc dưới mỹ từ bảo vệ tổ quốc nên họ tự cho mình cái quyền bắt lính và ai không đi hay đào ngũ đều bị tử hình. Tôi phản đối chuyện này, và tôi phản đối bằng việc ủng hộ cho phép phụ nữ phá thai. Trong một thế giới đầy bọn quỷ đực chuyên tạo xa chiến tranh để giết chết biết bao sinh mạng con người và thú vật, khai thác tài nguyên thiên nhiên chỉ để phục vụ cho giết chóc con người của dân tộc khác, thì phải có những con quỷ cái giết con của nó và bọn quỷ đực kia để cân bằng lại thế giới. Hãy để chọn lọc tự nhiên làm việc của nó.

Trong một thế giới bình yên, phồn thịnh, nhân bản và trí tuệ, thì con cái là phúc lộc trời cho, mà ai lại đi trục bỏ phúc lộc của trời ban chứ? Chỉ khi thế giới tàn tạ và ác độc tràn lan thì phụ nữ mới trở nên vô lương tâm mà thôi. Vậy mà người ta không biết gốc của vấn đề ở đâu, cứ đè phụ nữ ra trách cứ. Vấn đề nằm ngay trong chính phủ của các nước lớn và nhỏ kia kìa. Bọn đàn ông ác và tham lam, ích kỷ, nắm quyền từ chính trị, kinh tế đến quân sự và các tổ chức tôn giáo đầy thế lực toàn là đàn ông cai trị đã dẫn dắt thế giới chui xuống địa ngục, bọn người này có khác chi quỷ đội lốt người, và chính bọn người này cấm phụ nữ thích nghi với thời thế. Chính vì không chịu nhận ra là tội lỗi là do mình mà ra, nên những kẻ này không bao giờ có thể giải quyết được vấn đề cả. Tại sao những kẻ chống phá thai toàn thuộc tập hợp những con người bản tính diều hâu và ưa chiến tranh? Điểm lại những tôn giáo chống phá thai mạnh nhất xem bạn sẽ thấy hai đặc điểm này:

1. Họ đã từng gây chiến tranh giết chết biết bao sinh mạng trong đó có cả phụ nữ mang thai và trẻ em. Và họ vẫn đang nuôi dưỡng xung đột với nhau, mầm mống chiến tranh trù mật trong tổ chức của họ.

2. Họ không quan tâm gì đến trẻ em sau khi chúng được sinh ra hết.

3. Họ dung dưỡng cho ấu dâm.

Hãy tìm hiểu về những kẻ to mồm chống phá thai và những người ủng hộ họ nhiều nhất, bạn sẽ thấy một bọn đạo đức giả.

Đàn ông và đàn bà, khi ác thì cả hai cùng ác, vậy mà toàn đè đàn bà ra đổ tội. Chính việc ăn ở diều hâu hung hăng con bọ xít và dối trá là đầu dây mối nhợ cho tội ác trên đời này, và phá thai là một phản ứng thích nghi lại với thế giới tội ác đó. Đổi trắng thay đen, ăn nói ngược ngạo, những tưởng có thể giúp những kẻ thủ ác trút tội lỗi lên đầu nạn nhân, nhưng đừng hòng, thế giới này vẫn còn nhiều người biết suy nghĩ lắm.

Tái bút: Hãy dùng bao cao su để tránh thai, không có thai thì không cần lo nghĩ gì. Và nếu có thể, hãy ngủ một mình thôi, đừng ngủ hai mình, thế thì lại càng nhẹ đầu hơn nữa. Tôi thích hoạt động để ngăn ngừa phá thai hơn là chống nó, tôi không muốn tước đi thanh kiếm của một người để tự vệ trong địa ngục trần gian, nhưng tôi ước họ không bao giờ phải ra tay dùng kiếm. Ngừa phá thai bằng việc tránh thai hợp lý thông qua quan hệ tình dục an toàn mới là việc nên làm. Và khi đủ thực lực thì phải ngừa chiến tranh, tôi cũng lại không muốn chống chiến tranh vì có những dân tộc bị ăn hiếp bởi kẻ ỷ mạnh hiếp yếu, họ phải được dùng chiến tranh để tự vệ. Ngừa chiến tranh là phải ngừa bằng việc ngăn kẻ mạnh ức hiếp kẻ yếu, ngăn bọn người thích áp đặt và dùng những phương pháp cực đoan để ép người khác theo mình, và ngăn bọn tham tàn bòn rút tài nguyên và ăn cướp tài nguyên và con người của dân tộc khác.