Lời người dịch: Quyển sách Think and Grow Rich (Nghĩ và Làm Giàu) của Napoleon Hill có tất cả 15 chương, trong đó chương thứ 14 về giác quan thứ sáu là chương tôi thấy đặc sắc nhất. Dưới đây xin dịch ra tiếng Việt chương ấy để hầu quý độc giả của blog trên con đường tầm cầu kiến thức để làm giàu cho mình và đất nước.
-
GIÁC QUAN THỨ SÁU
(THE SIXTH SENSE)
CÁNH CỬA VÀO NGÔI ĐỀN TRÍ KHÔN
(THE DOOR TO THE TEMPLE OF WISDOM)
Bước thứ mười ba tiến đến giàu có
Nguyên lý “thứ mười ba” được biết đến với tên gọi là GIÁC QUAN THỨ SÁU, mà nhờ đó Trí Tuệ Siêu Việt (Infinite Intelligent) có thể, và sẽ tự động giao tiếp mà không cần bản thân phải nỗ lực hay yêu cầu gì cả.
Nguyên lý này chính là đỉnh chóp của toàn bộ triết lý. CHỈ có thể tiêu hóa, thấu hiểu vá áp dụng nổi nó khi mà đã quán triệt hết mười hai nguyên lý trước đó rồi.
GIÁC QUAN THỨ SÁU chính là một phần của tiềm thức_ tức Trí Tưởng Tượng Sáng Tạo (Creative Imagination). Nó cũng được coi là một “cơ chế nhận” (receiving set) mà nhờ nó các ý tưởng, kế hoạch và suy nghĩ lóe lên trong tâm trí. Cái “lóe” đó đôi khi được gọi là “linh cảm” (hunches) hoặc “cảm hứng” (inspirations).
Giác quan thứ sáu vô hình vô tướng! Không thể diễn đạt nó cho một người chưa quán triệt các nguyên lý trước trong triết lý này, bởi vì một người như vậy không có cái hiểu biết và kinh nghiệm sánh được với giác quan thứ sáu. Sự thấu hiểu giác quan thứ sáu chỉ đến bằng con đường thiền định thông qua sự phát triển tâm trí từ bên trong. Giác quan thứ sáu gần giống một môi trường gặp gỡ giữa tâm trí giới hạn của một người và Cái trí Siêu việt vậy, và vì lẽ này, nó là một hỗn dung giữa cả hai cái thuộc về tâm và thuộc về thần (mental and spiritual). Nó được cho là điểm mà tâm trí của một người gặp gỡ với Tâm Trí Hoàn Vũ (Universal Mind).
Sau khi bạn đã quán triệt hết các nguyên lý được diễn đạt trong sách này rồi, bạn sẽ sẵn sàng đón nhận một trạng thái mà ở đó bạn ngộ ra chân lý, hoặc không thì cũng là một điều phi thường, đó là:
Nhờ trợ giúp của giác quan thứ sáu, bạn sẽ cảnh giác với những nguy hiểm đang đến trong dòng thời gian để mà tránh chúng, và dự cảm được các cơ hội trong dòng thời gian để nắm bắt chúng.
Theo cùng sự trợ lực của bạn, và để đáp lại cái giá mà bạn đã trả, đồng hành với sự phát triển của giác quan thứ sáu, một “thiên thần hộ mệnh” luôn hiện diện sẵn để mở cánh cửa cho bạn đi vào Ngôi Đền Trí Khôn.
Có hay không trạng thái giác ngộ chân lý này, bạn sẽ không bao giờ biết được trừ phi làm theo các chỉ dẫn đã được diễn tả trong quyển sách, hay trong các liệu pháp tương tự.
Tác giả không phải là một người tin tưởng hay chủ trương có “phép màu” đâu, lý do là tác giả đã có đủ kiến thức về Tự nhiên để hiểu rằng Tự nhiên không bao giờ chệch hướng khỏi những quy luật đã được thiết lập của nó. Một vài quy luật quá khó lĩnh hội đến nỗi chúng sinh ra những thứ trông như “phép màu”. Giác quan thứ sáu đến y như kiểu một “phép màu” mà tôi đã từng trải nghiệm, nó giống như vậy thật, chỉ bởi vì tôi đã không hề hiểu cái cách thức mà nguyên lý này vận hành thôi.
Giờ đây tác giả đã biết – rằng có một sức mạnh, hay một Căn Nguyên Đầu Tiên (First Cause), hay một Trí Thông Minh tràn ngập trong mỗi một nguyên tử của vật chất, và gồm thâu từng đơn vị năng lượng mà một người có thể cảm nhận được – rằng Cái Trí Siêu Việt này đã chuyển đổi những quả đấu (acorns) thành cây sồi (oak trees), khiến nước chảy xuống đồi như một hệ quả của lực hấp dẫn, cho ngày nối tiếp đêm, và mùa hạ nối tiếp mùa đông, mỗi vật duy trì vị thế và mối quan hệ thích hợp của chúng với những vật khác. Trí Tuệ này, thông qua những nguyên lý của triết lý này, có thể được hun đúc để giúp chuyển hóa KHAO KHÁT thành thực thể, hay dạng vật chất. Tác giả có được cái biết này là nhờ đã thử nghiệm nó và đã TRẢI NGHIỆM NÓ.
Từng bước từng bước, thông qua các chương trước, bạn đã đến được đây, nguyên lý cuối cùng. Nếu bạn đã quán triệt từng nguyên lý một trước đó rồi, thì bạn đã sẵn sàng đón nhận, không hoài nghi, những lời tuyên bố kỳ diệu được nói ra ở đây. Nếu bạn vẫn chưa làm chủ được những nguyên lý trước, bạn phải thực hiện lại trước khi bạn có thể xác quyết, một cách rõ ràng, rằng những lời tuyên bố trên trong chương này là sự thực hay là hư cấu.
Ở cái tuổi “tôn sùng thần tượng”, tôi thấy mình cũng cố bắt chước những người mà mình ngưỡng mộ nhất. Hơn thế nữa, tôi đã khám phá ra là cái nhân tố NIỀM TIN, mà tôi dùng để ráng sức bắt chước các thần tượng, đã đem đến cho tôi một khả năng lớn lao để thực hiện điều đó một cách khá thành công.
Tôi chưa bao giờ hoàn toàn cởi bỏ thói quen tôn sùng thần tượng này của mình, dù cho đã qua rồi cái tuổi cho một điều như thế. Kinh nghiệm dạy tôi rằng thứ tốt nhất sau sự vĩ đại đích thực là noi gương sự vĩ đại, bằng cảm nhận và hành động gần nhất có thể.
Từ lâu trước khi tôi viết ra được dòng nào để xuất bản, hay cố gắng truyền đạt một bài phát biểu trước công chúng, tôi đã làm theo thói quen định hình lại cá tính của mình, bằng việc thử sức bắt chước chín con người mà cuộc đời và sự nghiệp của họ đã gây ấn tượng đậm nhất lên tôi. Chín người này là: Emerson, Paine, Edison, Darwin, Lincoln, Burbank, Napoleon, Ford và Carnergie. Ngày nào cũng vậy, trong suốt hàng năm trời dài, tôi chủ trì một cuộc họp Hội đồng tưởng tượng với chín người trong nhóm này mà tôi gọi là các “Cố Vấn Vô Hình” (Invisible Counselors) của mình.
Thủ tục là thế này. Mỗi tối ngay trước khi đi ngủ, tôi nhắm mắt lại, rồi hình dung, trong trí tưởng tượng của tôi, nhóm người này ngồi cùng mình xung quanh một Bàn Nghị (Counsil Table). Tại đây, tôi chẳng những có cơ hội ngồi giữa những vị mà tôi xem là vĩ đại, mà còn chủ trì cả nhóm, thông qua việc làm chủ tọa.
Tôi có một MỤC ĐÍCH RÕ RÀNG trong việc dung dưỡng trí tưởng tượng của mình xuyên suốt những cuộc họp hàng đêm này. Mục đích là xây dựng lại cá tính của chính mình để nó sẽ thể hiện được một thể hỗn hợp những cá tính từ các vị cố vấn tưởng tượng của tôi. Ngay từ thời trẻ khi đã nhận ra mình phải vượt thoát khỏi cái môi trường bất lợi tạo ra bởi sự ngu dốt và mê tín, tôi đã suy xét kỹ lưỡng và nhất trí một nhiệm vụ là sẽ tự nguyện tái sinh chính mình thông qua những phương pháp được diễn tả ở đây.
XÂY DỰNG CÁ TÍNH THÔNG QUA TỰ KỶ ÁM THỊ (AUTO-SUGGESTION)
Có ham mê nghiên cứu tâm lý học nên tôi biết, lẽ dĩ nhiên, mọi người đều trở thành kẻ mà anh ta là, bởi những suy nghĩ và khao khát chủ đạo. Tôi biết mỗi một khao khát ngự trong sâu thẳm sẽ gây ra ảnh hưởng khiến cho một người đi tìm sự thể hiện ra bên ngoài mà nhờ đó cái khao khát ấy có thể chuyển hóa thành thực tế. Tôi biết sự tự kỷ ám thị là một nhân tố đầy sức mạnh trong việc xây dựng cá tính, rằng thực ra thì nó chính là nguyên lý nền mà từ đó hình thành nên cá tính.
Với kiến thức về các nguyên lý vận hành tâm trí này, tôi đã được trang bị khá tốt những công cụ cần thiết để gầy dựng lại cá tính của mình. Trong những cuộc họp Hội đồng tưởng tượng này, tôi kêu gọi những thành viên trong Nội các của mình cho tôi kiến thức mà tôi mong ước họ trao truyền, dẫn dắt chính mình đến với từng thành viên bằng những lời được nói ra như sau:
“Thưa ngài Emerson, tôi mong ước đạt được từ ngài sự hiểu biết tuyệt diệu về Tự nhiên đã khiến cuộc đời ngài thành công nổi bật. Tôi xin ngài hãy ghi sâu vào tâm trí của tôi bất cứ phẩm chất nào ngài sở hữu, cái đã cho phép ngài hiểu và thích nghi với quy luật Tự nhiên. Xin ngài hãy giúp tôi vươn tới và chỉ đường đến bất cứ nguồn kiến thức nào khả thi để đạt được mục đích.
“Thưa ngài Burbank, tôi thỉnh cầu ngài hãy chuyển qua cho tôi những kiến thức cho phép ngài đồng điệu vô cùng với quy luật Tự nhiên đến mức khiến xương rồng phải rụng hết gai và biến thành thực phẩm. Hãy cho tôi lối vào kho kiến thức đã cho phép ngài làm cho hai phiến cỏ sinh trưởng được nơi mà trước giờ chưa cây nào trong chúng mọc được, và giúp ngài hòa trộn màu sắc của những bông hoa theo cách rực rỡ và đồng điệu hơn, để ngài, riêng ngài, đã thành công trong việc tô điểm thêm cho những đóa bách hợp vốn đã đẹp rồi.
“Napoleon, tôi mong ước đạt được từ ngài, khi tôi thi thố với đời, cái bản tính tuyệt diệu như ngài có khi truyền cảm hứng cho mọi người, khuấy động tinh thần hành động của họ lên một tầm vĩ đại và quyết đoán hơn nữa. Cũng như thỉnh cầu nơi ngài tinh thần nhẫn nại đối với NIỀM TIN của mình, cái đã giúp ngài chuyển bại thành thắng, và vượt qua những chướng ngại làm chao đảo lòng người. Hoàng đế của Số phận (Emperor of Fate), Vua của Cơ hội (King of Chance), Người của Định mệnh (Man of Destiny), tôi nghiêm kính chào ngài!
“Thưa ngài Paine, tôi mong ước đạt được từ ngài sự tự do trong suy nghĩ, sự can đảm và trong sáng để diễn đạt được những gì thuyết phục, điều đã khiến cuộc đời ngài thành công nổi bật.
“Thưa ngài Darwin, tôi mong ước đạt được từ ngài sự kiên nhẫn tuyệt diệu, và khả năng nghiên cứu về nguyên nhân và kết quả một cách không hề thiên vị hay định kiến, đã được ngài khắc họa rõ nét trong lĩnh vực khoa học tự nhiên.
“Thưa ngài Lincoln, tôi ao ước xây dựng cho cá tính của mình một cảm quan sắc bén về công lý, một tinh thần kiên nhẫn không mệt mỏi, khiếu hài hước, sự am hiểu con người, và lòng bao dung, những thứ đã là tính cách nổi trội nhất của ngài.
“Thưa ngài Carnegie, tôi còn nợ ngài đã giúp tôi lựa chọn công việc của đời mình, thứ đã mang đến niềm hạnh phúc lớn lao và sự bình yên trong tâm trí tôi. Tôi ước đạt được một sự hiểu biết hoàn toàn những nguyên lý về nỗ lực có bài bản, cái mà ngài đã sử dụng quá ư hiệu quả để dựng nên một hãng công nghiệp vĩ đại.
“Thưa ngài Ford, ngài đã là một trong số những người hữu ích nhất cung cấp cho tôi những nhu yếu vật chất trong công việc của mình. Tôi ước đạt được tinh thần kiên trì, quả quyết, đĩnh đạc, và sự tự tin của ngài, những thứ đã cho phép ngài vượt qua nghèo đói, tổ chức, hợp nhất, đơn giản hóa sự nỗ lực của con người, để tôi có thể giúp những người khác noi theo bước chân ngài.
“Thưa ngài Edison, tôi đã sắp xếp ngài ngồi gần tôi nhất, ngay bên phải, bởi vì mối hợp tác cá nhân mà ngài đã trao cho tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu về những nguyên do dẫn đến thành công và thất bại. Tôi ước đạt được từ ngài cái tinh thần TIN TƯỞNG tuyệt diệu, mà nhờ đó ngài đã khám phá ra biết bao nhiêu là bí mật của Tự nhiên, tinh thần không quản ngại khó nhọc đã giúp ngài hết lần này đến lần khác đánh vật được thất bại để giành chiến thắng.”
Phương pháp dẫn nhập các thành viên trong Nội các tưởng tượng của tôi thay đổi tùy theo nét tính cách mà tôi thích đạt được nhất vào lúc đó. Tôi đã nghiên cứu những ghi nhận về cuộc đời của họ với sự cẩn trọng. Sau vài tháng thực hiện thủ tục hàng đêm này, tôi cảm thấy kinh ngạc khi khám phá ra những nhân vật tưởng tượng này trông rất thật.
Mỗi trong chín người này đều biểu lộ thành những cá tính riêng, điều khiến tôi thấy bất ngờ lắm. Ví dụ, Lincoln đã bộc lộ thói quen hay đến trễ, xong lại bước đi một vòng trong nghi thức tuần hành rất trang nghiêm. Khi ngài đến, ngài bước đi rất chậm, hai tay chắp sau lưng, rồi bỗng một lúc, khi đi ngang qua tôi ngài dừng lại, buông tựa tay của ngài trên vai tôi trong thoáng chốc. Ngài lúc nào cũng mang vẻ uy nghiêm trên khuôn mặt. Hiếm khi tôi thấy ngài cười. Mối bận tâm về chuyện quốc gia chia cắt khiến ngài trầm tĩnh.
Điều đó lại không đúng với các thành viên khác. Burbank và Paine lại hay tung hứng những màn đối đáp dí dỏm mà dường như, đôi khi, là để gây sốc những thành viên khác của nội các. Có đêm Paine đề nghị tôi hãy soạn một bài giảng cho quyển “Thời Đại Của Sự Hữu Lý” (The Age of Reason), và truyền đạt nó ngay trên bục thuyết giảng của một nhà thờ mà tôi từng đến dự. Nhiều người ngồi xung quanh bàn nghị đã cười muốn rụng tim vì đề nghị đó. Trừ Napoleon! Ngài trề hai khóe môi xuống và rên lên lớn đến nỗi tất cả đều chuyển sang nhìn ngài với vẻ kinh ngạc. Với ngài, nhà thờ chẳng khác gì một con cờ của Nhà nước, không phải để cải cách, mà là để người ta sử dụng như một công cụ kích động trong hoạt động quần chúng.
[Người dịch xin chú thích: Paine là tác giả của quyển "The Age of Reason" được xuất bản vào năm 1794.]
Có một lần Burbank đến trễ. Khi ngài đến, ngài hào hứng với cả bầu nhiệt huyết, và giải thích rằng ngài bị trễ vì đang làm một thí nghiệm mà ngài hy vọng có thể làm cho táo mọc trên mọi loại cây. Paine mới quở ngài bằng việc nhắc lại chuyện chính một quả táo đã khai mào cho mọi rắc rối giữa đàn ông và đàn bà đấy. Darwin cười khúc khích mà rung rung cả lồng ngực trong khi ngài đề nghị Paine hãy coi chừng mấy con rắn nhỏ, khi ngài đi vào rừng hái táo, vì chúng có thói quen lớn lên thành mấy con rắn to lắm. Emerson bình luận – “Không có rắn, không có táo”, rồi Napoleon nói lại, “Không có táo, không có nhà nước!”
Lincoln đã hình thành thói quen luôn luôn là người cuối cùng rời bàn nghị sau mỗi cuộc họp. Trong một dịp nọ, ngài tựa ngang vào phía cuối bàn, hai tay khoanh lại, và duy trì tư thế đó trong nhiều phút đồng hồ. Tôi không hề có ý làm phiền ngài. Cuối cùng, ngài ngẩng đầu lên chầm chậm, đứng dậy và bước đến phía cửa, đoạn quay người lại, trở về và đặt tay lên vai tôi và nói, “Chàng trai của ta, người sẽ cần nhiều can đảm nếu người vẫn kiên định thực hiện mục đích sống của mình. Nhưng hãy nhớ, khi khó khăn ập xuống người, thì những kẻ thường tình sẽ cảm nhận theo cách thường tình. Nghịch cảnh sẽ làm bộc lộ nó.”
Một buổi tối Edison đến sớm nhất. Ngài cứ bước đi như không rồi ngồi xuống bên trái tôi, chỗ mà Emerson thường ngồi, và nói, “Người được định đặt để chứng kiến sự khám phá ra bí mật của cuộc đời. Khi thời điểm đó đến, người sẽ quan sát thấy cuộc đời bao gồm những tổ năng lượng, hay những thực thể, mỗi chúng đều thông minh giống như con người nghĩ về mình vậy. Những đơn vị sống này quần tụ với nhau như những tổ ong và duy trì với nhau cho tới khi chúng tan rã, vì thiếu sự đồng điệu. Những đơn vị này có nhiều khác biệt về quan điểm, giống y như loài người, và cũng hay đấu đá với nhau. Những cuộc họp mà người đang chỉ đạo ở đây sẽ giúp ích rất nhiều cho người. Chúng sẽ mang đến, trên con đường giải thoát của người, một số đơn vị sống tương tự như cái đã giúp cho những thành viên trong Nội các của người thời sinh tiền. Những đơn vị này là bất diệt. CHÚNG KHÔNG BAO GIỜ CHẾT! Tư duy và KHAO KHÁT của tự thân người đóng vai trò như một nam châm hấp dẫn những đơn vị sống này, từ đại dương sự sống vĩ đại ngoài kia. Chỉ những đơn vị thân thiện mới được hấp dẫn tới – những đơn vị đồng điệu với bản chất của KHAO KHÁT của người.”
Những thành viên khác trong Nội các bắt đầu vào phòng. Edison đứng dậy, và chầm chậm bước vòng về chỗ của mình. Edison vẫn đang sống khi chuyện này xảy ra. Nó gây ấn tượng mạnh mẽ lên tôi đến mức tôi đã đến gặp ngài và kể về trải nghiệm đó. Ngài cười toang, và nói, “Giấc mơ của anh thực hơn những gì anh có thể tưởng tượng đó.” Ngài không giải thích gì thêm ngoài câu nói ấy.
Những cuộc họp này trở nên thực đến độ làm tôi thấy sợ hậu quả nó mang lại, và đã ngừng tiếp diễn trong vài tháng. Trải nghiệm ấy quá kỳ lạ, tôi e ngại nếu còn làm tiếp tôi sẽ đánh mất tầm nhìn thực tế rằng những cuộc họp ấy thuần túy chỉ là trải nghiệm từ trí tưởng tượng của tôi mà thôi.
Chừng sáu tháng sau khi tôi ngừng tiếp diễn những thực hành trên, tôi đã bị đánh thức vào một đêm nọ, hoặc là tôi nghĩ thế, lúc đó Lincoln đứng bên cạnh tôi. Ngài nói, “Thế giới sẽ sớm cần sự phục vụ của người, nó sắp sửa trải qua một thời kỳ hỗn loạn khiến cho đàn ông và đàn bà đánh mất niềm tin, và trở nên hoang mang sợ hãi. Hãy cứ làm việc tiếp đi và hoàn thành triết lý của người. Đó là sứ mệnh của người trong cuộc đời. Nếu người bỏ mặc nó, vì bất cứ lý do gì đi chăng nữa, người sẽ bị giáng xuống trạng thái nguyên thủy, và buộc phải trở lại từ đầu cái chu trình mà người đã mất hàng ngàn năm qua để đi được.”
Tôi không thể nói được gì, ngay sáng hôm sau, dù là tôi đã mơ hay là tôi đã thực sự được đánh thức, cho tới giờ này tôi cũng chưa trả lời được nó là thế nào, nhưng tôi biết chắc rằng cái giấc mơi đó, nếu nó đúng là một giấc mơ, thì nó vô cùng sinh động trong tâm trí tôi cả ngày hôm sau đến nỗi tôi đã phục hồi lại các cuộc họp vào ngay đêm hôm đó.
Bữa họp ấy, những thành viên trong Nội các của tôi tất cả đều tập trung trong phòng cùng nhau, và đứng ở chỗ thường lệ của mình quanh Bàn Tròn Hội Nghị, trong lúc Lincoln nâng ly và nói, “Thưa các vị, ta hãy uống mừng một người bạn đã trở lại với gia đình.”
Sau đó, tôi bắt đầu thêm nhiều thành viên mới vào Nội các của mình, đến nay nó đã bao gồm hơn năm mươi người, trong đó có Christ, thánh Paul, Galieo, Copernicus, Aristotle, Plato, Socrates, Homer, Voltaire, Bruno, Spinoza, Drummond, Kant, Schopenhauer, Newton, Confucius (Khổng Tử), Elbert Hubbard, Brann, Ingersol, Wilson, và William James.
Đây là lần đầu tiên tôi có can đảm đề cập tới chuyện này. Trước đây, tôi vẫn giữ im lặng về việc đó, vì tôi biết, dựa trên chính thái độ của mình trong mối liên hệ với những chuyện như thế, tôi sẽ bị hiểu lầm nếu đi mô tả những trải nghiệm không bình thường của tôi. Giờ đây tôi đã bạo dạn hơn để chuyển thể những kinh nghiệm của mình ra giấy, bởi tôi đã bớt quan ngại về những gì “người ta nói” như tôi đã từng trong những năm qua. Một thứ phước báu của sự trưởng thành là đôi khi nó khiến cho người ta can đảm hơn hẳn để mà thành thật, không cần biết những kẻ không hiểu chuyện có thể nghĩ hay nói gì.
Để không bị hiểu lầm, tôi mong ước có thể nêu ra ở đây một cách rõ ràng rằng tôi vẫn xem những cuộc họp Nội các của mình thuần túy là tưởng tượng, nhưng tôi vẫn cảm thấy mình có tư cách để thừa nhận rằng, tuy những thành viên trong Nội các của tôi có thể chỉ là hư cấu, và những cuộc họp tồn tại chỉ trong trí tưởng tượng của chính tôi mà thôi, thì họ cũng đã dẫn dắt tôi đi vào những con đường phiêu lưu huy hoàng, nhen nhóm một nhận thức về điều vĩ đại đích thực, động viên sự nỗ lực, và khuyến khích diễn đạt những suy nghĩ chân thực.
Đâu đó trong cấu trúc tế bào (cell-structure) của não bộ, là nơi chốn của một cơ quan nhận các sóng tư duy mà thường gọi là “linh cảm”. Cho đến nay, khoa học vẫn chưa khám phá ra là cơ quan của giác quan thứ sáu này ở chỗ nào, nhưng điều này không quan trọng. Thực tế là con người vẫn đón nhận kiến thức đúng đắn, từ những nguồn khác ngoài các giác quan vật lý. Những kiến thức đó, một cách chung chung, được đón nhận khi tâm trí ở trong trạng thái kích thích phi thường. Bất kỳ trường hợp cấp bách nào cũng đánh thức những cảm xúc này, và khiến cho trái tim đập nhanh hơn mức bình thường, và vô hình chung, làm giác quan thứ sáu hoạt động. Ai đã từng trải nghiệm việc xém bị tai nạn khi đang lái xe, đều biết rằng trong những tình huống như vậy, giác quan thứ sáu hay xảy đến để cứu họ, và hỗ trợ họ, chỉ mấy phần giây thôi, để tránh cái tai nạn đi.
Thực tế được nhắc đến trên đây là để tôi trình bày một sự thực, đó là, trong suốt thời gian họp hành với các vị “Cố Vấn Vô Hình”, tôi thấy tâm trí của mình tiếp thu dễ dàng nhất những ý tưởng, tư duy và hiểu biết, những cái đến với mình thông qua giác quan thứ sáu. Thành thật mà nói tôi nợ những vị “Cố Vấn Vô Hình” của mình hết thảy những công trạng cho những ý tưởng, sự thực, hay hiểu biết mà tôi đã nhận được thông qua “sự truyền cảm”.
Trong rất nhiều dịp, khi tôi gặp những tình huống khẩn cấp, nhiều cái trầm trọng đến mức khiến đời tôi bị lâm vào cảnh hiểm nghèo, tôi đã được dẫn dắt vượt qua những khó khăn này một cách nhiệm màu nhờ vào sức ảnh hưởng từ những “Cố Vấn Vô Hình”.
Mục đích ban đầu của tôi khi chỉ đạo cuộc họp Hội đồng với những thể chất tưởng tượng, chỉ là để gây ấn tượng lên tư duy tiềm thức của mình mà thôi, bằng nguyên lý tự kỷ ám thị, với những đặc tính nào đó mà tôi mong ước đạt được. Các năm gần đây, các trải nghiệm của tôi đã bắt theo một xu hướng hoàn toàn khác. Tôi bây giờ hay đến gặp các vị cố vấn tưởng tượng của mình với mỗi một vấn đề khó khăn mà tôi và các khách hàng chạm trán. Kết quả thường rất đáng ngạc nhiên, mặc dù tôi không phụ thuộc hoàn toàn vào kiểu Cố vấn này.
Bạn, chắc chắn, đã nhận ra là chương sách này bao phủ một phạm trù mà đa phần mọi người đều không quen thuộc. Giác Quan Thứ Sáu là một phạm trù sẽ mang đến niềm thú vị và lợi ích rất lớn cho những ai nhắm đến việc tích lũy của cải đồ sộ, chứ không nhất thiết phải gây chú ý từ những kẻ chỉ mong ước giản đơn.
Henry Ford, chắc chắn hiểu và vận dụng giác quan thứ sáu. Hoạt động tài tính và kinh doanh lớn mạnh khiến ngài cần phải hiểu và sử dụng nguyên lý này. Thomas A. Edison quá cố cũng hiểu và sử dụng giác quan thứ sáu để kết nối với sự phát triển các phát minh, đặc biệt là những cái liên quan đến bằng sáng chế cơ bản, để kết nối với những thứ mà ngài không hề có kinh nghiệm và những kiến thức tích lũy để dẫn dắt ngài, như trong trường hợp khi ngài làm máy hát và máy chiếu phim.
Gần như mọi lãnh đạo vĩ đại, thí dụ Napoleon, Bismark, Joan of Arc, Christ, Buddha (Phật), Confucius, và Mohammed, đều hiểu và có thể đã liên tục vận dụng giác quan thứ sáu. Phần chính yếu trong sự vĩ đại của họ cũng bao gồm cả cái biết về nguyên lý này.
Giác quan thứ sáu không phải là một thứ mà ai đó có thể tháo ra và lắp vào theo ý muốn. Năng lực sử dụng sức mạnh vĩ đại này đến chậm rãi, thông qua sự áp dụng những nguyên lý khác đã có vạch ra trong sách. Hiếm thấy có cá nhân nào khai thác được khối kiến thức về giác quan thứ sáu trước tuổi bốn mươi. Thường thì khối kiến thức này vẫn chưa kích hoạt được với người chưa từng trải qua năm mươi tuổi, cái tuổi có quan hệ mật thiết với giác quan thứ sáu, cũng chưa đủ trưởng thành và trở nên hữu dụng trừ phi có nhiều năm thiền định, kiểm nghiệm tự thân, và tư duy nghiêm túc.
Không cần biết bạn là ai, hay mục đích bạn đọc sách này là gì, bạn vẫn có thể thu lợi từ nó mà không cần phải hiểu cái nguyên lý được mô tả trong chương này. Nó đặc biệt đúng trong trường hợp mục đích chính của bạn là tích lũy tiền bạc và những thứ thuộc về vật chất khác.
Chương về giác quan thứ sáu được đưa vào bởi vì quyển sách mang một mục đích là trình bày hoàn chỉnh một triết lý để mỗi cá nhân đều có thể dẫn dắt chính bản thân họ không bị lầm lẫn trên đường đạt tới bất cứ thứ gì mà họ đòi hỏi trong đời. Điểm xuất phát của mọi thành tựu đều là KHAO KHÁT. Điểm hoàn thành chính là một loại KIẾN THỨC mà dẫn tới sự thông hiểu – thông hiểu chính mình, thông hiểu những thứ khác, thông hiểu quy luật của Tự nhiên, sự nhận thức và thông hiểu về HẠNH PHÚC.
Kiểu thông hiểu này chỉ đến một cách hoàn thiện khi thông qua sự làm quen và vận dụng nguyên lý về giác quan thứ sáu, vì thế mà nguyên lý đó phải được đưa vào làm một phần của triết lý này, vì lợi ích dành cho những ai yêu cầu nhiều hơn là tiền bạc.
Đọc chương sách này rồi, hẳn bạn cũng đã nhìn ra trong lúc đọc nó, rằng bạn đã được nâng lên một tầm cao mới trong sự kích thích tâm lý. Hết sức tuyệt vời! Hãy quay trở lại chừng một tháng sau, đọc lại thêm lần nữa, và chứng kiến cái tâm trí bay bổng lên một mức kích thích còn cao hơn thế này. Cứ lập lại trải nghiệm hết lần này đến lần khác, đừng quan tâm đến chuyện bạn học được nhiều hay ít, và cuối cùng bạn cũng sẽ nhận thấy chính mình sở hữu một sức mạnh cho phép bạn ném hết mọi sự ngã lòng, khuất phục được nỗi sợ, vượt qua được sự do dự, và vạch vẽ một cách tự do theo trí tưởng tượng của mình. Và rồi bạn sẽ cảm nhận được cái chạm vào “thứ gì đó” chưa hề biết trước đây, cái mà chính là tinh thần thăng hoa của mọi nhà tư duy, lãnh đạo, nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhà văn, diễn giả vĩ đại đích thực. Đó là lúc bạn ở vào chỗ có thể chuyển hóa KHAO KHÁT của mình thành thể vật lý hay tài chính tương ứng một cách dễ dàng y như khả năng bạn bị khuất phục và bỏ cuộc khi gặp dấu hiệu trở ngại đầu tiên vậy.
NIỀN TIN VS. NỖI SỢ!
Những chương trước mô tả cách phát triển NIỀM TIN, thông qua sự Tự kỷ ám thị, Khao khát và Tiềm thức. Chương kế tiếp trình bày những hướng dẫn chi tiết về việc khắc phục NỖI SỢ.
Nơi đây bạn sẽ tìm ra sự diễn giảng đầy đủ về sáu nỗi sợ hãi đã gây nên mọi dạng nhụt chí, rụt rè, do dự, sự thờ ơ, sự thiếu quả quyết, đồng thời là sự kém cỏi trong chí cầu tiến, tự lực cánh sinh, chủ động, bình tĩnh, và nhiệt huyết. Tìm hiểu bản thân cẩn thận khi nghiên cứu sáu kẻ thù này, vì chúng có thể chỉ tồn tại trong tư duy tiềm thức của bạn, một nơi rất khó phát hiện.
Cũng xin hãy nhớ, khi bạn phân tích “Sáu Bóng Ma Nỗi Sợ”, rằng chúng không phải là thứ gì khác ngoài những bóng ma vì chúng chỉ tồn tại trong tâm trí của một người mà thôi.
Và hãy nhớ, chính những bóng ma đó – thành quả của một trí tưởng tượng không được kiểm soát – là nguyên nhân dẫn đến những tổn hại lớn nhất mà người ta gây ra cho tâm trí của mình, thế nên, những bóng ma đó cũng nguy hiểm như giả dụ mà chúng sống và đi được trên mặt đất trong thân xác vật lý vậy.
Bóng Ma Nỗi Sợ Nghèo Đói, cái đã chiếm lĩnh tâm trí của hàng triệu người vào năm 1929, nó thực đến nỗi đã gây ra sự suy thoái kinh tế (business depression) tồi tệ nhất mà đất nước này (Mỹ USA) từng biết đến. Hơn thế nữa, cái bóng ma đặt biệt này vẫn đang tiếp tục đe dọa quá mức xoay sở lên nhiều kẻ trong chúng ta.
-/
