Sunday, September 20, 2020

Bản dịch chương 14 sách THINK AND GROW RICH của Napoleon Hill

Lời người dịch: Quyển sách Think and Grow Rich (Nghĩ và Làm Giàu) của Napoleon Hill có tất cả 15 chương, trong đó chương thứ 14 về giác quan thứ sáu là chương tôi thấy đặc sắc nhất. Dưới đây xin dịch ra tiếng Việt chương ấy để hầu quý độc giả của blog trên con đường tầm cầu kiến thức để làm giàu cho mình và đất nước.

-


CHƯƠNG 14

GIÁC QUAN THỨ SÁU
(THE SIXTH SENSE)

CÁNH CỬA VÀO NGÔI ĐỀN TRÍ KHÔN
(THE DOOR TO THE TEMPLE OF WISDOM)

Bước thứ mười ba tiến đến giàu có



Nguyên lý “thứ mười ba” được biết đến với tên gọi là GIÁC QUAN THỨ SÁU, mà nhờ đó Trí Tuệ Siêu Việt (Infinite Intelligent) có thể, và sẽ tự động giao tiếp mà không cần bản thân phải nỗ lực hay yêu cầu gì cả.

Nguyên lý này chính là đỉnh chóp của toàn bộ triết lý. CHỈ có thể tiêu hóa, thấu hiểu vá áp dụng nổi nó khi mà đã quán triệt hết mười hai nguyên lý trước đó rồi.

GIÁC QUAN THỨ SÁU chính là một phần của tiềm thức_ tức Trí Tưởng Tượng Sáng Tạo (Creative Imagination). Nó cũng được coi là một “cơ chế nhận” (receiving set) mà nhờ nó các ý tưởng, kế hoạch và suy nghĩ lóe lên trong tâm trí. Cái “lóe” đó đôi khi được gọi là “linh cảm” (hunches) hoặc “cảm hứng” (inspirations).

Giác quan thứ sáu vô hình vô tướng! Không thể diễn đạt nó cho một người chưa quán triệt các nguyên lý trước trong triết lý này, bởi vì một người như vậy không có cái hiểu biết và kinh nghiệm sánh được với giác quan thứ sáu. Sự thấu hiểu giác quan thứ sáu chỉ đến bằng con đường thiền định thông qua sự phát triển tâm trí từ bên trong. Giác quan thứ sáu gần giống một môi trường gặp gỡ giữa tâm trí giới hạn của một người và Cái trí Siêu việt vậy, và vì lẽ này, nó là một hỗn dung giữa cả hai cái thuộc về tâm và thuộc về thần (mental and spiritual). Nó được cho là điểm mà tâm trí của một người gặp gỡ với Tâm Trí Hoàn Vũ (Universal Mind).

Sau khi bạn đã quán triệt hết các nguyên lý được diễn đạt trong sách này rồi, bạn sẽ sẵn sàng đón nhận một trạng thái mà ở đó bạn ngộ ra chân lý, hoặc không thì cũng là một điều phi thường, đó là:

Nhờ trợ giúp của giác quan thứ sáu, bạn sẽ cảnh giác với những nguy hiểm đang đến trong dòng thời gian để mà tránh chúng, và dự cảm được các cơ hội trong dòng thời gian để nắm bắt chúng.

Theo cùng sự trợ lực của bạn, và để đáp lại cái giá mà bạn đã trả, đồng hành với sự phát triển của giác quan thứ sáu, một “thiên thần hộ mệnh” luôn hiện diện sẵn để mở cánh cửa cho bạn đi vào Ngôi Đền Trí Khôn.

Có hay không trạng thái giác ngộ chân lý này, bạn sẽ không bao giờ biết được trừ phi làm theo các chỉ dẫn đã được diễn tả trong quyển sách, hay trong các liệu pháp tương tự.

Tác giả không phải là một người tin tưởng hay chủ trương có “phép màu” đâu, lý do là tác giả đã có đủ kiến thức về Tự nhiên để hiểu rằng Tự nhiên không bao giờ chệch hướng khỏi những quy luật đã được thiết lập của nó. Một vài quy luật quá khó lĩnh hội đến nỗi chúng sinh ra những thứ trông như “phép màu”. Giác quan thứ sáu đến y như kiểu một “phép màu” mà tôi đã từng trải nghiệm, nó giống như vậy thật, chỉ bởi vì tôi đã không hề hiểu cái cách thức mà nguyên lý này vận hành thôi.

Giờ đây tác giả đã biết – rằng có một sức mạnh, hay một Căn Nguyên Đầu Tiên (First Cause), hay một Trí Thông Minh tràn ngập trong mỗi một nguyên tử của vật chất, và gồm thâu từng đơn vị năng lượng mà một người có thể cảm nhận được – rằng Cái Trí Siêu Việt này đã chuyển đổi những quả đấu (acorns) thành cây sồi (oak trees), khiến nước chảy xuống đồi như một hệ quả của lực hấp dẫn, cho ngày nối tiếp đêm, và mùa hạ nối tiếp mùa đông, mỗi vật duy trì vị thế và mối quan hệ thích hợp của chúng với những vật khác. Trí Tuệ này, thông qua những nguyên lý của triết lý này, có thể được hun đúc để giúp chuyển hóa KHAO KHÁT thành thực thể, hay dạng vật chất. Tác giả có được cái biết này là nhờ đã thử nghiệm nó và đã TRẢI NGHIỆM NÓ.

Từng bước từng bước, thông qua các chương trước, bạn đã đến được đây, nguyên lý cuối cùng. Nếu bạn đã quán triệt từng nguyên lý một trước đó rồi, thì bạn đã sẵn sàng đón nhận, không hoài nghi, những lời tuyên bố kỳ diệu được nói ra ở đây. Nếu bạn vẫn chưa làm chủ được những nguyên lý trước, bạn phải thực hiện lại trước khi bạn có thể xác quyết, một cách rõ ràng, rằng những lời tuyên bố trên trong chương này là sự thực hay là hư cấu.

Ở cái tuổi “tôn sùng thần tượng”, tôi thấy mình cũng cố bắt chước những người mà mình ngưỡng mộ nhất. Hơn thế nữa, tôi đã khám phá ra là cái nhân tố NIỀM TIN, mà tôi dùng để ráng sức bắt chước các thần tượng, đã đem đến cho tôi một khả năng lớn lao để thực hiện điều đó một cách khá thành công.

Tôi chưa bao giờ hoàn toàn cởi bỏ thói quen tôn sùng thần tượng này của mình, dù cho đã qua rồi cái tuổi cho một điều như thế. Kinh nghiệm dạy tôi rằng thứ tốt nhất sau sự vĩ đại đích thực là noi gương sự vĩ đại, bằng cảm nhận và hành động gần nhất có thể.

Từ lâu trước khi tôi viết ra được dòng nào để xuất bản, hay cố gắng truyền đạt một bài phát biểu trước công chúng, tôi đã làm theo thói quen định hình lại cá tính của mình, bằng việc thử sức bắt chước chín con người mà cuộc đời và sự nghiệp của họ đã gây ấn tượng đậm nhất lên tôi. Chín người này là: Emerson, Paine, Edison, Darwin, Lincoln, Burbank, Napoleon, Ford và Carnergie. Ngày nào cũng vậy, trong suốt hàng năm trời dài, tôi chủ trì một cuộc họp Hội đồng tưởng tượng với chín người trong nhóm này mà tôi gọi là các “Cố Vấn Vô Hình” (Invisible Counselors) của mình.

Thủ tục là thế này. Mỗi tối ngay trước khi đi ngủ, tôi nhắm mắt lại, rồi hình dung, trong trí tưởng tượng của tôi, nhóm người này ngồi cùng mình xung quanh một Bàn Nghị (Counsil Table). Tại đây, tôi chẳng những có cơ hội ngồi giữa những vị mà tôi xem là vĩ đại, mà còn chủ trì cả nhóm, thông qua việc làm chủ tọa.

Tôi có một MỤC ĐÍCH RÕ RÀNG trong việc dung dưỡng trí tưởng tượng của mình xuyên suốt những cuộc họp hàng đêm này. Mục đích là xây dựng lại cá tính của chính mình để nó sẽ thể hiện được một thể hỗn hợp những cá tính từ các vị cố vấn tưởng tượng của tôi. Ngay từ thời trẻ khi đã nhận ra mình phải vượt thoát khỏi cái môi trường bất lợi tạo ra bởi sự ngu dốt và mê tín, tôi đã suy xét kỹ lưỡng và nhất trí một nhiệm vụ là sẽ tự nguyện tái sinh chính mình thông qua những phương pháp được diễn tả ở đây.

XÂY DỰNG CÁ TÍNH THÔNG QUA TỰ KỶ ÁM THỊ (AUTO-SUGGESTION)


Có ham mê nghiên cứu tâm lý học nên tôi biết, lẽ dĩ nhiên, mọi người đều trở thành kẻ mà anh ta là, bởi những suy nghĩ và khao khát chủ đạo. Tôi biết mỗi một khao khát ngự trong sâu thẳm sẽ gây ra ảnh hưởng khiến cho một người đi tìm sự thể hiện ra bên ngoài mà nhờ đó cái khao khát ấy có thể chuyển hóa thành thực tế. Tôi biết sự tự kỷ ám thị là một nhân tố đầy sức mạnh trong việc xây dựng cá tính, rằng thực ra thì nó chính là nguyên lý nền mà từ đó hình thành nên cá tính.

Với kiến thức về các nguyên lý vận hành tâm trí này, tôi đã được trang bị khá tốt những công cụ cần thiết để gầy dựng lại cá tính của mình. Trong những cuộc họp Hội đồng tưởng tượng này, tôi kêu gọi những thành viên trong Nội các của mình cho tôi kiến thức mà tôi mong ước họ trao truyền, dẫn dắt chính mình đến với từng thành viên bằng những lời được nói ra như sau:

“Thưa ngài Emerson, tôi mong ước đạt được từ ngài sự hiểu biết tuyệt diệu về Tự nhiên đã khiến cuộc đời ngài thành công nổi bật. Tôi xin ngài hãy ghi sâu vào tâm trí của tôi bất cứ phẩm chất nào ngài sở hữu, cái đã cho phép ngài hiểu và thích nghi với quy luật Tự nhiên. Xin ngài hãy giúp tôi vươn tới và chỉ đường đến bất cứ nguồn kiến thức nào khả thi để đạt được mục đích.

“Thưa ngài Burbank, tôi thỉnh cầu ngài hãy chuyển qua cho tôi những kiến thức cho phép ngài đồng điệu vô cùng với quy luật Tự nhiên đến mức khiến xương rồng phải rụng hết gai và biến thành thực phẩm. Hãy cho tôi lối vào kho kiến thức đã cho phép ngài làm cho hai phiến cỏ sinh trưởng được nơi mà trước giờ chưa cây nào trong chúng mọc được, và giúp ngài hòa trộn màu sắc của những bông hoa theo cách rực rỡ và đồng điệu hơn, để ngài, riêng ngài, đã thành công trong việc tô điểm thêm cho những đóa bách hợp vốn đã đẹp rồi.

“Napoleon, tôi mong ước đạt được từ ngài, khi tôi thi thố với đời, cái bản tính tuyệt diệu như ngài có khi truyền cảm hứng cho mọi người, khuấy động tinh thần hành động của họ lên một tầm vĩ đại và quyết đoán hơn nữa. Cũng như thỉnh cầu nơi ngài tinh thần nhẫn nại đối với NIỀM TIN của mình, cái đã giúp ngài chuyển bại thành thắng, và vượt qua những chướng ngại làm chao đảo lòng người. Hoàng đế của Số phận (Emperor of Fate), Vua của Cơ hội (King of Chance), Người của Định mệnh (Man of Destiny), tôi nghiêm kính chào ngài!

“Thưa ngài Paine, tôi mong ước đạt được từ ngài sự tự do trong suy nghĩ, sự can đảm và trong sáng để diễn đạt được những gì thuyết phục, điều đã khiến cuộc đời ngài thành công nổi bật.

“Thưa ngài Darwin, tôi mong ước đạt được từ ngài sự kiên nhẫn tuyệt diệu, và khả năng nghiên cứu về nguyên nhân và kết quả một cách không hề thiên vị hay định kiến, đã được ngài khắc họa rõ nét trong lĩnh vực khoa học tự nhiên.

“Thưa ngài Lincoln, tôi ao ước xây dựng cho cá tính của mình một cảm quan sắc bén về công lý, một tinh thần kiên nhẫn không mệt mỏi, khiếu hài hước, sự am hiểu con người, và lòng bao dung, những thứ đã là tính cách nổi trội nhất của ngài.

“Thưa ngài Carnegie, tôi còn nợ ngài đã giúp tôi lựa chọn công việc của đời mình, thứ đã mang đến niềm hạnh phúc lớn lao và sự bình yên trong tâm trí tôi. Tôi ước đạt được một sự hiểu biết hoàn toàn những nguyên lý về nỗ lực có bài bản, cái mà ngài đã sử dụng quá ư hiệu quả để dựng nên một hãng công nghiệp vĩ đại.

“Thưa ngài Ford, ngài đã là một trong số những người hữu ích nhất cung cấp cho tôi những nhu yếu vật chất trong công việc của mình. Tôi ước đạt được tinh thần kiên trì, quả quyết, đĩnh đạc, và sự tự tin của ngài, những thứ đã cho phép ngài vượt qua nghèo đói, tổ chức, hợp nhất, đơn giản hóa sự nỗ lực của con người, để tôi có thể giúp những người khác noi theo bước chân ngài.

“Thưa ngài Edison, tôi đã sắp xếp ngài ngồi gần tôi nhất, ngay bên phải, bởi vì mối hợp tác cá nhân mà ngài đã trao cho tôi trong suốt thời gian tôi nghiên cứu về những nguyên do dẫn đến thành công và thất bại. Tôi ước đạt được từ ngài cái tinh thần TIN TƯỞNG tuyệt diệu, mà nhờ đó ngài đã khám phá ra biết bao nhiêu là bí mật của Tự nhiên, tinh thần không quản ngại khó nhọc đã giúp ngài hết lần này đến lần khác đánh vật được thất bại để giành chiến thắng.”

Phương pháp dẫn nhập các thành viên trong Nội các tưởng tượng của tôi thay đổi tùy theo nét tính cách mà tôi thích đạt được nhất vào lúc đó. Tôi đã nghiên cứu những ghi nhận về cuộc đời của họ với sự cẩn trọng. Sau vài tháng thực hiện thủ tục hàng đêm này, tôi cảm thấy kinh ngạc khi khám phá ra những nhân vật tưởng tượng này trông rất thật.

Mỗi trong chín người này đều biểu lộ thành những cá tính riêng, điều khiến tôi thấy bất ngờ lắm. Ví dụ, Lincoln đã bộc lộ thói quen hay đến trễ, xong lại bước đi một vòng trong nghi thức tuần hành rất trang nghiêm. Khi ngài đến, ngài bước đi rất chậm, hai tay chắp sau lưng, rồi bỗng một lúc, khi đi ngang qua tôi ngài dừng lại, buông tựa tay của ngài trên vai tôi trong thoáng chốc. Ngài lúc nào cũng mang vẻ uy nghiêm trên khuôn mặt. Hiếm khi tôi thấy ngài cười. Mối bận tâm về chuyện quốc gia chia cắt khiến ngài trầm tĩnh.

Điều đó lại không đúng với các thành viên khác. Burbank và Paine lại hay tung hứng những màn đối đáp dí dỏm mà dường như, đôi khi, là để gây sốc những thành viên khác của nội các. Có đêm Paine đề nghị tôi hãy soạn một bài giảng cho quyển “Thời Đại Của Sự Hữu Lý” (The Age of Reason), và truyền đạt nó ngay trên bục thuyết giảng của một nhà thờ mà tôi từng đến dự. Nhiều người ngồi xung quanh bàn nghị đã cười muốn rụng tim vì đề nghị đó. Trừ Napoleon! Ngài trề hai khóe môi xuống và rên lên lớn đến nỗi tất cả đều chuyển sang nhìn ngài với vẻ kinh ngạc. Với ngài, nhà thờ chẳng khác gì một con cờ của Nhà nước, không phải để cải cách, mà là để người ta sử dụng như một công cụ kích động trong hoạt động quần chúng.

[Người dịch xin chú thích: Paine là tác giả của quyển "The Age of Reason" được xuất bản vào năm 1794.]

Có một lần Burbank đến trễ. Khi ngài đến, ngài hào hứng với cả bầu nhiệt huyết, và giải thích rằng ngài bị trễ vì đang làm một thí nghiệm mà ngài hy vọng có thể làm cho táo mọc trên mọi loại cây. Paine mới quở ngài bằng việc nhắc lại chuyện chính một quả táo đã khai mào cho mọi rắc rối giữa đàn ông và đàn bà đấy. Darwin cười khúc khích mà rung rung cả lồng ngực trong khi ngài đề nghị Paine hãy coi chừng mấy con rắn nhỏ, khi ngài đi vào rừng hái táo, vì chúng có thói quen lớn lên thành mấy con rắn to lắm. Emerson bình luận – “Không có rắn, không có táo”, rồi Napoleon nói lại, “Không có táo, không có nhà nước!”

Lincoln đã hình thành thói quen luôn luôn là người cuối cùng rời bàn nghị sau mỗi cuộc họp. Trong một dịp nọ, ngài tựa ngang vào phía cuối bàn, hai tay khoanh lại, và duy trì tư thế đó trong nhiều phút đồng hồ. Tôi không hề có ý làm phiền ngài. Cuối cùng, ngài ngẩng đầu lên chầm chậm, đứng dậy và bước đến phía cửa, đoạn quay người lại, trở về và đặt tay lên vai tôi và nói, “Chàng trai của ta, người sẽ cần nhiều can đảm nếu người vẫn kiên định thực hiện mục đích sống của mình. Nhưng hãy nhớ, khi khó khăn ập xuống người, thì những kẻ thường tình sẽ cảm nhận theo cách thường tình. Nghịch cảnh sẽ làm bộc lộ nó.”

Một buổi tối Edison đến sớm nhất. Ngài cứ bước đi như không rồi ngồi xuống bên trái tôi, chỗ mà Emerson thường ngồi, và nói, “Người được định đặt để chứng kiến sự khám phá ra bí mật của cuộc đời. Khi thời điểm đó đến, người sẽ quan sát thấy cuộc đời bao gồm những tổ năng lượng, hay những thực thể, mỗi chúng đều thông minh giống như con người nghĩ về mình vậy. Những đơn vị sống này quần tụ với nhau như những tổ ong và duy trì với nhau cho tới khi chúng tan rã, vì thiếu sự đồng điệu. Những đơn vị này có nhiều khác biệt về quan điểm, giống y như loài người, và cũng hay đấu đá với nhau. Những cuộc họp mà người đang chỉ đạo ở đây sẽ giúp ích rất nhiều cho người. Chúng sẽ mang đến, trên con đường giải thoát của người, một số đơn vị sống tương tự như cái đã giúp cho những thành viên trong Nội các của người thời sinh tiền. Những đơn vị này là bất diệt. CHÚNG KHÔNG BAO GIỜ CHẾT! Tư duy và KHAO KHÁT của tự thân người đóng vai trò như một nam châm hấp dẫn những đơn vị sống này, từ đại dương sự sống vĩ đại ngoài kia. Chỉ những đơn vị thân thiện mới được hấp dẫn tới – những đơn vị đồng điệu với bản chất của KHAO KHÁT của người.”

Những thành viên khác trong Nội các bắt đầu vào phòng. Edison đứng dậy, và chầm chậm bước vòng về chỗ của mình. Edison vẫn đang sống khi chuyện này xảy ra. Nó gây ấn tượng mạnh mẽ lên tôi đến mức tôi đã đến gặp ngài và kể về trải nghiệm đó. Ngài cười toang, và nói, “Giấc mơ của anh thực hơn những gì anh có thể tưởng tượng đó.” Ngài không giải thích gì thêm ngoài câu nói ấy.

Những cuộc họp này trở nên thực đến độ làm tôi thấy sợ hậu quả nó mang lại, và đã ngừng tiếp diễn trong vài tháng. Trải nghiệm ấy quá kỳ lạ, tôi e ngại nếu còn làm tiếp tôi sẽ đánh mất tầm nhìn thực tế rằng những cuộc họp ấy thuần túy chỉ là trải nghiệm từ trí tưởng tượng của tôi mà thôi.

Chừng sáu tháng sau khi tôi ngừng tiếp diễn những thực hành trên, tôi đã bị đánh thức vào một đêm nọ, hoặc là tôi nghĩ thế, lúc đó Lincoln đứng bên cạnh tôi. Ngài nói, “Thế giới sẽ sớm cần sự phục vụ của người, nó sắp sửa trải qua một thời kỳ hỗn loạn khiến cho đàn ông và đàn bà đánh mất niềm tin, và trở nên hoang mang sợ hãi. Hãy cứ làm việc tiếp đi và hoàn thành triết lý của người. Đó là sứ mệnh của người trong cuộc đời. Nếu người bỏ mặc nó, vì bất cứ lý do gì đi chăng nữa, người sẽ bị giáng xuống trạng thái nguyên thủy, và buộc phải trở lại từ đầu cái chu trình mà người đã mất hàng ngàn năm qua để đi được.”

Tôi không thể nói được gì, ngay sáng hôm sau, dù là tôi đã mơ hay là tôi đã thực sự được đánh thức, cho tới giờ này tôi cũng chưa trả lời được nó là thế nào, nhưng tôi biết chắc rằng cái giấc mơi đó, nếu nó đúng là một giấc mơ, thì nó vô cùng sinh động trong tâm trí tôi cả ngày hôm sau đến nỗi tôi đã phục hồi lại các cuộc họp vào ngay đêm hôm đó.

Bữa họp ấy, những thành viên trong Nội các của tôi tất cả đều tập trung trong phòng cùng nhau, và đứng ở chỗ thường lệ của mình quanh Bàn Tròn Hội Nghị, trong lúc Lincoln nâng ly và nói, “Thưa các vị, ta hãy uống mừng một người bạn đã trở lại với gia đình.”

Sau đó, tôi bắt đầu thêm nhiều thành viên mới vào Nội các của mình, đến nay nó đã bao gồm hơn năm mươi người, trong đó có Christ, thánh Paul, Galieo, Copernicus, Aristotle, Plato, Socrates, Homer, Voltaire, Bruno, Spinoza, Drummond, Kant, Schopenhauer, Newton, Confucius (Khổng Tử), Elbert Hubbard, Brann, Ingersol, Wilson, và William James.

Đây là lần đầu tiên tôi có can đảm đề cập tới chuyện này. Trước đây, tôi vẫn giữ im lặng về việc đó, vì tôi biết, dựa trên chính thái độ của mình trong mối liên hệ với những chuyện như thế, tôi sẽ bị hiểu lầm nếu đi mô tả những trải nghiệm không bình thường của tôi. Giờ đây tôi đã bạo dạn hơn để chuyển thể những kinh nghiệm của mình ra giấy, bởi tôi đã bớt quan ngại về những gì “người ta nói” như tôi đã từng trong những năm qua. Một thứ phước báu của sự trưởng thành là đôi khi nó khiến cho người ta can đảm hơn hẳn để mà thành thật, không cần biết những kẻ không hiểu chuyện có thể nghĩ hay nói gì.

Để không bị hiểu lầm, tôi mong ước có thể nêu ra ở đây một cách rõ ràng rằng tôi vẫn xem những cuộc họp Nội các của mình thuần túy là tưởng tượng, nhưng tôi vẫn cảm thấy mình có tư cách để thừa nhận rằng, tuy những thành viên trong Nội các của tôi có thể chỉ là hư cấu, và những cuộc họp tồn tại chỉ trong trí tưởng tượng của chính tôi mà thôi, thì họ cũng đã dẫn dắt tôi đi vào những con đường phiêu lưu huy hoàng, nhen nhóm một nhận thức về điều vĩ đại đích thực, động viên sự nỗ lực, và khuyến khích diễn đạt những suy nghĩ chân thực.

Đâu đó trong cấu trúc tế bào (cell-structure) của não bộ, là nơi chốn của một cơ quan nhận các sóng tư duy mà thường gọi là “linh cảm”. Cho đến nay, khoa học vẫn chưa khám phá ra là cơ quan của giác quan thứ sáu này ở chỗ nào, nhưng điều này không quan trọng. Thực tế là con người vẫn đón nhận kiến thức đúng đắn, từ những nguồn khác ngoài các giác quan vật lý. Những kiến thức đó, một cách chung chung, được đón nhận khi tâm trí ở trong trạng thái kích thích phi thường. Bất kỳ trường hợp cấp bách nào cũng đánh thức những cảm xúc này, và khiến cho trái tim đập nhanh hơn mức bình thường, và vô hình chung, làm giác quan thứ sáu hoạt động. Ai đã từng trải nghiệm việc xém bị tai nạn khi đang lái xe, đều biết rằng trong những tình huống như vậy, giác quan thứ sáu hay xảy đến để cứu họ, và hỗ trợ họ, chỉ mấy phần giây thôi, để tránh cái tai nạn đi.

Thực tế được nhắc đến trên đây là để tôi trình bày một sự thực, đó là, trong suốt thời gian họp hành với các vị “Cố Vấn Vô Hình”, tôi thấy tâm trí của mình tiếp thu dễ dàng nhất những ý tưởng, tư duy và hiểu biết, những cái đến với mình thông qua giác quan thứ sáu. Thành thật mà nói tôi nợ những vị “Cố Vấn Vô Hình” của mình hết thảy những công trạng cho những ý tưởng, sự thực, hay hiểu biết mà tôi đã nhận được thông qua “sự truyền cảm”.

Trong rất nhiều dịp, khi tôi gặp những tình huống khẩn cấp, nhiều cái trầm trọng đến mức khiến đời tôi bị lâm vào cảnh hiểm nghèo, tôi đã được dẫn dắt vượt qua những khó khăn này một cách nhiệm màu nhờ vào sức ảnh hưởng từ những “Cố Vấn Vô Hình”.

Mục đích ban đầu của tôi khi chỉ đạo cuộc họp Hội đồng với những thể chất tưởng tượng, chỉ là để gây ấn tượng lên tư duy tiềm thức của mình mà thôi, bằng nguyên lý tự kỷ ám thị, với những đặc tính nào đó mà tôi mong ước đạt được. Các năm gần đây, các trải nghiệm của tôi đã bắt theo một xu hướng hoàn toàn khác. Tôi bây giờ hay đến gặp các vị cố vấn tưởng tượng của mình với mỗi một vấn đề khó khăn mà tôi và các khách hàng chạm trán. Kết quả thường rất đáng ngạc nhiên, mặc dù tôi không phụ thuộc hoàn toàn vào kiểu Cố vấn này.

Bạn, chắc chắn, đã nhận ra là chương sách này bao phủ một phạm trù mà đa phần mọi người đều không quen thuộc. Giác Quan Thứ Sáu là một phạm trù sẽ mang đến niềm thú vị và lợi ích rất lớn cho những ai nhắm đến việc tích lũy của cải đồ sộ, chứ không nhất thiết phải gây chú ý từ những kẻ chỉ mong ước giản đơn.

Henry Ford, chắc chắn hiểu và vận dụng giác quan thứ sáu. Hoạt động tài tính và kinh doanh lớn mạnh khiến ngài cần phải hiểu và sử dụng nguyên lý này. Thomas A. Edison quá cố cũng hiểu và sử dụng giác quan thứ sáu để kết nối với sự phát triển các phát minh, đặc biệt là những cái liên quan đến bằng sáng chế cơ bản, để kết nối với những thứ mà ngài không hề có kinh nghiệm và những kiến thức tích lũy để dẫn dắt ngài, như trong trường hợp khi ngài làm máy hát và máy chiếu phim.

Gần như mọi lãnh đạo vĩ đại, thí dụ Napoleon, Bismark, Joan of Arc, Christ, Buddha (Phật), Confucius, và Mohammed, đều hiểu và có thể đã liên tục vận dụng giác quan thứ sáu. Phần chính yếu trong sự vĩ đại của họ cũng bao gồm cả cái biết về nguyên lý này.

Giác quan thứ sáu không phải là một thứ mà ai đó có thể tháo ra và lắp vào theo ý muốn. Năng lực sử dụng sức mạnh vĩ đại này đến chậm rãi, thông qua sự áp dụng những nguyên lý khác đã có vạch ra trong sách. Hiếm thấy có cá nhân nào khai thác được khối kiến thức về giác quan thứ sáu trước tuổi bốn mươi. Thường thì khối kiến thức này vẫn chưa kích hoạt được với người chưa từng trải qua năm mươi tuổi, cái tuổi có quan hệ mật thiết với giác quan thứ sáu, cũng chưa đủ trưởng thành và trở nên hữu dụng trừ phi có nhiều năm thiền định, kiểm nghiệm tự thân, và tư duy nghiêm túc.

Không cần biết bạn là ai, hay mục đích bạn đọc sách này là gì, bạn vẫn có thể thu lợi từ nó mà không cần phải hiểu cái nguyên lý được mô tả trong chương này. Nó đặc biệt đúng trong trường hợp mục đích chính của bạn là tích lũy tiền bạc và những thứ thuộc về vật chất khác.

Chương về giác quan thứ sáu được đưa vào bởi vì quyển sách mang một mục đích là trình bày hoàn chỉnh một triết lý để mỗi cá nhân đều có thể dẫn dắt chính bản thân họ không bị lầm lẫn trên đường đạt tới bất cứ thứ gì mà họ đòi hỏi trong đời. Điểm xuất phát của mọi thành tựu đều là KHAO KHÁT. Điểm hoàn thành chính là một loại KIẾN THỨC mà dẫn tới sự thông hiểu – thông hiểu chính mình, thông hiểu những thứ khác, thông hiểu quy luật của Tự nhiên, sự nhận thức và thông hiểu về HẠNH PHÚC.

Kiểu thông hiểu này chỉ đến một cách hoàn thiện khi thông qua sự làm quen và vận dụng nguyên lý về giác quan thứ sáu, vì thế mà nguyên lý đó phải được đưa vào làm một phần của triết lý này, vì lợi ích dành cho những ai yêu cầu nhiều hơn là tiền bạc.

Đọc chương sách này rồi, hẳn bạn cũng đã nhìn ra trong lúc đọc nó, rằng bạn đã được nâng lên một tầm cao mới trong sự kích thích tâm lý. Hết sức tuyệt vời! Hãy quay trở lại chừng một tháng sau, đọc lại thêm lần nữa, và chứng kiến cái tâm trí bay bổng lên một mức kích thích còn cao hơn thế này. Cứ lập lại trải nghiệm hết lần này đến lần khác, đừng quan tâm đến chuyện bạn học được nhiều hay ít, và cuối cùng bạn cũng sẽ nhận thấy chính mình sở hữu một sức mạnh cho phép bạn ném hết mọi sự ngã lòng, khuất phục được nỗi sợ, vượt qua được sự do dự, và vạch vẽ một cách tự do theo trí tưởng tượng của mình. Và rồi bạn sẽ cảm nhận được cái chạm vào “thứ gì đó” chưa hề biết trước đây, cái mà chính là tinh thần thăng hoa của mọi nhà tư duy, lãnh đạo, nghệ sĩ, nhạc sĩ, nhà văn, diễn giả vĩ đại đích thực. Đó là lúc bạn ở vào chỗ có thể chuyển hóa KHAO KHÁT của mình thành thể vật lý hay tài chính tương ứng một cách dễ dàng y như khả năng bạn bị khuất phục và bỏ cuộc khi gặp dấu hiệu trở ngại đầu tiên vậy.

NIỀN TIN VS. NỖI SỢ!


Những chương trước mô tả cách phát triển NIỀM TIN, thông qua sự Tự kỷ ám thị, Khao khát và Tiềm thức. Chương kế tiếp trình bày những hướng dẫn chi tiết về việc khắc phục NỖI SỢ.

Nơi đây bạn sẽ tìm ra sự diễn giảng đầy đủ về sáu nỗi sợ hãi đã gây nên mọi dạng nhụt chí, rụt rè, do dự, sự thờ ơ, sự thiếu quả quyết, đồng thời là sự kém cỏi trong chí cầu tiến, tự lực cánh sinh, chủ động, bình tĩnh, và nhiệt huyết. Tìm hiểu bản thân cẩn thận khi nghiên cứu sáu kẻ thù này, vì chúng có thể chỉ tồn tại trong tư duy tiềm thức của bạn, một nơi rất khó phát hiện.

Cũng xin hãy nhớ, khi bạn phân tích “Sáu Bóng Ma Nỗi Sợ”, rằng chúng không phải là thứ gì khác ngoài những bóng ma vì chúng chỉ tồn tại trong tâm trí của một người mà thôi.

Và hãy nhớ, chính những bóng ma đó – thành quả của một trí tưởng tượng không được kiểm soát – là nguyên nhân dẫn đến những tổn hại lớn nhất mà người ta gây ra cho tâm trí của mình, thế nên, những bóng ma đó cũng nguy hiểm như giả dụ mà chúng sống và đi được trên mặt đất trong thân xác vật lý vậy.

Bóng Ma Nỗi Sợ Nghèo Đói, cái đã chiếm lĩnh tâm trí của hàng triệu người vào năm 1929, nó thực đến nỗi đã gây ra sự suy thoái kinh tế (business depression) tồi tệ nhất mà đất nước này (Mỹ USA) từng biết đến. Hơn thế nữa, cái bóng ma đặt biệt này vẫn đang tiếp tục đe dọa quá mức xoay sở lên nhiều kẻ trong chúng ta.
-/

Monday, September 14, 2020

Truyện dành cho những ai yêu đậu bắp

[Thời của thế hệ sinh vào cuối 7x-đầu 8x]

***

"Mùa hạ, ngày… tháng… năm…

Hôm nay là ngày đầu tiên mình viết nhật ký, ở cái tuổi 18. Mình vốn coi việc viết lách trút bầu tâm sự này là chuyện của mấy đứa rỗi hơi làm, thế mà bây giờ mình lại không hơn gì tụi nó. Ở lại có một năm mà làm chi dữ quá. Học hành có lúc được, lúc thất, nhưng ba má mình thì cứ làm to tát lên, báo hại bây giờ phải về cái xứ khỉ ho cò gáy này đây. Ngồi viết mấy dòng tào lao, ái chà, mệt mỏi quá, buồn quá, xe của mình đâu, bồ mình đâu, chiến hữu của mình, đồ chơi điện tử của mình, cả cuộc đời của mình rồi còn gì!"

***

- Chó Con ơi, Chó Con… Lại cho thợ may người ta đo nè.

- Tên tuổi có chứ bộ không hay sao mà mẹ cứ gọi con như thế hoài, kỳ ghê.

- Hứ! Mẹ phải bỏ cả công việc trên thành phố lại cũng vì con đấy. Năm nay liệu mà học hành cho đàng hoàng, đậu tốt nghiệp, đậu đại học, không thì nhừ đòn nhé.

- Công tử rồi phải không. – Người thợ may hỏi chơi.

- Về đây tôi cấm xem tivi, cấm đọc truyện, cấm chơi điện tử, cấm tụ tập lập hội, nói chung là cấm hết. Sớm ngày đi học xong rồi về gia sư luyện tiếp. Không cho tiền tiêu pha mặc sức nữa mà mua đồ cho nó xài sẵn, cho tiền ít lại thì ăn chơi ít lại. Phải quản nó gắt như vậy, không thì năm nay ở lại nữa. – Bà mẹ đáp.

- Trông thằng nhỏ mặt mày sáng sủa quá mà ham chơi thế cũng hại thiệt nhỉ. – Người thợ may nói.

Trong khi mẹ và người thợ may trò chuyện về mình, cu cậu chỉ chờ cho người ta đo xong là giong đi lên lầu. Nhà của bà ngoại không có nhiều thứ để chơi cho lắm. Có cây kiểng là nhiều nhưng cái mớ đó thì đâu nghĩa lý gì với cậu. Chơi tức là phải đi uống bia, có bồ ngồi kế bên, có chiến hữu nói dóc chơi; rồi phải la cà chơi điện tử nữa; chiều chiều phải có tí tốc độ còn lấy le với đám con gái nữa. Nhưng vì bị ở lại năm lớp 12 nên cậu cũng sợ lắm rồi, với lại ba cậu làm dữ lắm, ông ấy lấy cái búa ra đòi đập vỡ đầu cậu luôn nên cậu hơi "rét" tí chút, đành chịu về quê ôn luyện.

***

"Ngày… tháng… năm…

Nhìn cái trường quê, nó tuy mới xây nhưng mà nó…quê quá, nắng chang chang vì chưa có cây cối, đi học thì phải bằng xe đạp chứ không phải bằng Honda nữa. Mình buồn khôn tả, đang ngồi một góc sân trường đây, có chiếc xe đạp kế bên mà không muốn về nhà vì ngán cái bà gia sư dữ còn hơn mẹ nữa. Nhưng nếu làm cho trễ giờ học thì no đòn, mẹ thuê cả một bà quản gia trông coi nhà kiêm "mách lẻo". Tại sao, tại sao, tại sao chứ….."


***

- Thưa bà ngoại và các cô, con mới về. – Cậu chào hỏi sau khi bước vào nhà.

- Đi học được hai bữa rồi, quen hết lớp chưa con? – Bà ngoại hỏi, vừa ngoáy trầu vừa ngồi trên bộ ván nhìn cậu.

Cậu thầm nghĩ bà ngoại là người duy nhất trong nhà cậu thích vì bà biết đùa lắm.

- Dạ, con quen cũng gần hết trường rồi bà ngoại. – Cậu hóm hỉnh đáp lại bà mình.

- Ha ha ha, cái thằng, dám chọc bà. – Bà ngoại mắng yêu cậu cháu cưng.

Cậu xin phép bà đi chơi với thằng bạn đội sổ năm ngoái ngồi lại giống cậu, bà ngoại đáp:

- Không được, lo rửa mặt, ăn cơm rồi học bài đi. Mẹ mày nó dữ lắm, phải biết coi chừng nó nghe con. – Bà dọa.

Thế là đến bà ngoại cũng không thể là chỗ dựa được nữa. Cả ngày hôm đó học mệt quá, cậu chỉ viết vội mấy dòng vào nhật ký.

"Ngày… tháng… năm…

Ta chẳng còn ai."


***

Cứ thế, một tháng trôi qua trong bầu không khí có phần hơi chán và bị "đe nẹt" của các bà gia sư và mẹ, vừa rồi là cả bà ngoại cũng không còn đứng về phía cậu nữa, nên cậu đâm ra buồn bã, cho rằng trời đất sắp sụp đổ. Từ một thằng nhà giàu đi chơi tự do quên học hành nay bị đưa vào khuôn khổ thế này, cậu thấy khó chịu lắm. Nhân lúc tan trường về, đạp xe ngang qua ngôi chùa nọ, thấy một tượng Quan Âm Bồ Tát rất to đứng trước ao sen, cậu bèn quẹo vào, dựng xe ngoài cổng, chạy một mạch đến trước tượng và chắp tay cầu nguyện. Không biết cậu cầu cái gì, mà sau khi dứt và lên xe đi ra thì đụng phải một cô gái nhỏ, chừng mười một tuổi, và làm dơ áo của người ta. Nói xin lỗi xong và em ấy cũng bỏ qua rồi thì cậu lên xe đi về. Bỗng cậu quay lại nói thêm lần nữa lớn hơn:

- Anh xin lỗi nha.

- Đã bảo không có gì rồi mà. – Em ấy đáp với theo.

Hôm sau cậu lại tranh thủ lúc vừa tan trường thì vào chùa tìm cô bé đó để cho một ít kẹo trước khi về, giống như cố xin lỗi thêm lần nữa vậy. Hỏi han người bên trong mới biết, cô bé hay qua đây làm việc vặt và chơi, năm nay học lớp sáu, nhà ở tuốt phía dưới mấy cánh đồng trồng đậu bắp sau chùa.

"Ngày… tháng… năm

Lớp sáu thôi sao? Nhỏ hơn mình những bảy tuổi cơ à. À, mà mùi đậu bắp non nghe quê mùa quá. Sao lớp sáu mà sao để tóc dài thế không biết. Dám còn chưa dậy thì nữa đấy. Uoề!

***

Cậu ăn uống đầy đủ, thể dục thể thao nghiêm ngặt dưới trướng của mẹ và bà quản gia, học hành thì có mấy bà gia sư khó tính kèm cặp, nên vẻ ngoài thì khỏe mạnh, còn học hành thì ngày một tấn tới. Từ ngày đụng phải em kia cậu như bị hớp hồn, không hiểu cái cảm xúc đó là gì. "Cô bé nhỏ bé quá" – Cậu hay nhắn nhủ như vậy với mình những khi nhớ về em gái đó. Mỗi chiều thứ bảy, khi một tuần học hành căng thẳng đã chấm dứt, cậu có thời gian khoảng một tiếng để thong thả đây đó trên chiếc xe đạp quanh miền quê trước khi về nhà, đi qua những cánh đồng nhưng thường thì cậu cứ đạp xe quanh chùa, thấy cô bé là dừng lại nói chuyện chơi. Lần nào trong cặp xách cũng có một ít bánh kẹo, thỉnh thoảng là quyển Mực Tím mới nhất dành cho em, và không thể thiếu màn chỉ bài được. Mẹ cậu có vẻ biết chuyện, cậu linh cảm thế, nhưng bà ấy không nói gì, cậu thấy mẹ mình cũng rất thoải mái chứ không hề dò hỏi nên cũng không nghĩ ngợi làm chi.

Một chiều thứ bảy như những chiều thứ bảy khác, cậu lại đạp xe đến chùa để mong gặp em gái nhỏ. Cậu có xin phép mẹ trước vì hôm nay cậu đi hơi lâu do có hẹn hái đậu bắp với người ta. Không hiểu sao mẹ cậu đồng ý dễ lắm, cũng không thắc mắc xem cậu có nói dối để đi bù khú với bạn bè hay không nữa. Có lẽ một phần vì miền quê này không còn bạn bè kiểu đó nữa, và vả chăng là bản tính của cậu cũng đâu phải hạng ăn chơi, chỉ là môi trường dễ dãi thì mới hư thôi. Lúc này, đậu bắp đã lớn hơn, những rổ trái mới hái xong dậy mùi khắp cả cánh đồng. Cậu đạp xe thật chậm rãi, chậm rãi và hít mọi thứ có trong bầu không khí ở đó, kể cả mùi tóc của cô em nhỏ ngồi phía sau lưng. Bỗng cậu nghe như sét đánh ngang… lòng tự tôn:

- Anh Chó Con!

Kèm theo sau đó là một giọng lí nhí nhưng rất chi là thú vị "hi hi hi" của em.

Cậu lập tức dừng xe lại, quay đầu một trăm tám mươi độ nhìn em và hỏi:

- Ở đâu ra cái kiểu đó? – Cậu nói mà giọng hơi nặng một chút, da trán thì nhướng lên, mắt mở thiệt to chiếu vào con nhỏ chằm chằm.

- Mẹ anh và mẹ em kể về anh cho em nghe. – Cô gái nhỏ hơi hồi hộp tưởng mình đã phạm lỗi gì dữ lắm nên anh ấy mới phản ứng mạnh như vậy. Tim cô đập thình thịch và có vẻ hơi sợ, mặt hơi cuối xuống, mắt hết dám nhìn cậu.

- Sao mẹ em và mẹ anh lại biết nhau? – Cậu hỏi.

- Mẹ em là thợ may đồ cho anh đó. – Em ấy vừa nói vừa ngước nhìn lên.

Cậu cuối xuống, nhìn vào mắt cô gái nhỏ và ân cần nói, giọng điệu nhỏ nhẹ thôi, chắc cậu muốn đàm phán hơn là làm lớn chuyện đây mà.

- Đây là bí mật, chỉ hai anh em mình biết thôi nha. Nha.

- Được anh ạ. – Giọng cô gái nhỏ ra chừng là người nắm đằng chui con dao lắm.

Rồi họ lại đèo nhau đi hết cả cánh đồng đậu bắp, xuống tận nhà em. Cậu gặp mẹ người ta, và nhận ra cô thợ may hôm đầu năm rồi.

"Ngày… tháng… năm…

Mùi đậu bắp mới hái nghe thơm quá."


Đôi khi nhật ký của cậu chỉ có vỏn vẹn một câu như thế thôi, trừ đi cái dòng ngày…tháng…năm… mặc định. Đó là những khi cậu tràn trề cảm xúc nhất.

***

Mùa hạ sắp đến, cậu chuẩn bị thi tốt nghiệp, và đã chọn trường đại học cho mình. Mọi chuyện diễn ra êm xuôi và không có gì để khiến ba mẹ cậu phiền lòng cả. Cũng đến ngày cậu trở lại thành phố để ở, một năm nghiêm ngặt đã qua, giờ cậu đã cai nghiện được cuộc sống ăn chơi theo kiểu cậu ấm như trước kia rồi, và biết nghĩ đến việc chăm lo cho sự nghiệp, cho hoài bão của mình. Hôm trước khi giã từ miền quê, cậu và mẹ ghé thăm nhà em gái nhỏ. Hai đứa cùng đi dạo quanh bờ sông, nắm tay nhau mà có cảm giác gì đó còn ngượng lắm, vì cậu thấy em nhỏ quá, còn em ấy thì thấy anh của mình lớn quá, không biết rồi ngày sao sẽ ra sao đây.

- Ngày mai anh theo mẹ đi lên thành phố ở luôn, em có nhớ anh không?

- Có.

- Anh cũng nhớ em nữa. Ráng học nghe, mai mốt lên đó học rồi mình lại gặp nhau.

- Anh không về thăm ngoại nữa à?

- Ý em là anh có về thăm em nữa hay không có đúng không?

Cô em không nói mà chỉ cười thôi.

- Anh sẽ về thăm em. Bà ngoại sẽ lên thành phố ở cùng với ba mẹ anh, mẹ muốn chăm sóc ngoại kỹ hơn. Nhưng anh sẽ về thăm em mà.

Cậu nói câu đó một cách vô tư như nhiều lời nói suông đã từng buông ra khỏi miệng trước đây, không có một thái độ trách nhiệm gì kèm theo, không hề nghĩ đó là một lời hứa như người em gái.

- Ngày mai, anh phải đi sớm, anh có món quà tặng em, bây giờ anh không mang theo, chiều em ra đây, rồi anh đưa cho nha.

Chiều hôm đó, em ấy ra sớm lắm, từ hai giờ chiều đã ngồi ở bờ sông đợi rồi, nhưng tận bảy giờ tối cũng không thấy anh của mình đâu nên buồn quá, trở về nhà, khóc suốt đêm, cảm giác như cuộc chia ly này là mãi mãi vậy.

Tội nghiệp cô gái nhỏ, tuổi mới lớn mà bị hớp hồn rồi, lại chưa bao nhiêu mà lòng đã buồn vì chia tay, hỏi tổn thương này biết bù sao cho đủ.

Thật ra, buổi chiều hôm đó cậu bị lạc đường. Lúc đi thì có em dắt, lúc về cũng có em dắt, cậu không để ý đến đường đi vì bận nhìn em mình. Đến khi đi lại chỗ hẹn thì cậu đi trật sang khúc sông khác, đi loanh quanh, rồi đạp xe lang thang mà lạc hồi nào không biết, lòng cậu vừa lo vừa giận mình, vừa nghĩ tới em, tưởng tượng chắc em đợi mình mà buồn lắm vì không thấy mình đâu mà ứa nước mắt. Trên tay cậu còn cầm chiếc áo mới bằng tiền của bốn mươi ly đá bào để tặng em nhưng không biết đi đường nào để trở về đường cái chứ đừng nói chi là đến nơi hẹn. Trời đã tối rồi cậu đành hỏi đường ra tới lộ, cái lộ mà người ta chỉ là một con lộ lạ hoắc, và cậu đành kêu xe ôm dẫn về nhà. Người mẹ chờ cậu nên biết chuyện, bà lo cho con trai và muốn thằng con an tâm mà ôn thi nên bắt cậu ở yên trong nhà, để chiếc áo lại, bà ngoại sẽ mang đi đến nhà em giùm cho.

Tuần sau, cuộc sống trên thành phố cũ đã ổn định, ba cậu ở dưới quê ngoại lên có mang cho cậu một món quà. Khi giở ra thì đó là một quyển tập trắng có ép rất nhiều hoa đậu bắp. Em nó làm từ lâu mà chưa dám tặng anh, định bữa đó đem tặng luôn mà ai dè không thấy người nên buổi tối người ta mới khóc dữ như vậy.

***

"Ngày… tháng… năm…

Vậy là chia tay em thật rồi, mình lo ôn thi nên sẽ không về quê làm chi nữa. Nhớ cô bé quá. Chưa có con bồ nào từng tặng quà cho mình, chỉ toàn mình tặng cho nó. Cũng chưa có ai mà mình phải góp tiền từng ngày để mua được món quà mà tặng. Mình… Thôi, em còn nhỏ quá, mình làm anh thôi. Mình sao vậy ta, sao viết ra nỗi lòng mà cũng khó quá vậy. Thú nhận với bản thân mà cũng khó thế là sao?"

"Ngày… tháng…năm…

Mình gặp lại bạn gái cũ. Nó bảo từ sau khi mình đi, nó đã cặp với hai thằng khác nhưng chẳng thằng nào bằng mình cả. Mình không ngạc nhiên, nhưng mình không thích nó nữa. Sao hồi đó mình thích được nhỏ đó ta? Nhớ em quá, nhưng mình phải giải bài tập đã."

"Ngày… tháng… năm…

Mình nắm chắc sẽ đậu. Mình sẽ về quê thăm em của mình. Nhưng đợi thi đậu xong rồi về luôn."

"Ngày… tháng… năm…

Thế là khỏe, đã đậu, ba mẹ đã đặt xe đưa cả nhà đi Đà Lạt chơi. Đợi mua ít quà cho em rồi về thăm luôn."

"Ngày… tháng… năm…

Con gái Tây Nguyên đẹp thiệt."

"Ngày… tháng… năm

Để hôm nào về quê mới được, chắc cô bé đó đã lớn nhiều rồi."

"Ngày… tháng… năm…"

"Ngày… tháng… năm…"

"Ngày… tháng… năm…

Mình không hiểu sao mình có thể viết một quyển nhật ký dày như thế này được. Đúng là… À mà mình chưa về quê lần nào từ khi mình lên ôn thi. Nhưng mình có nhiều việc phải lo quá."

"Ngày… tháng… năm…

Nhật ký à, tao ngày càng ít cần mày hơn. Tao nghĩ đó là một dấu hiệu tốt vì tao thấy cuộc sống còn nhiều việc quan trọng khác để làm hơn là tâm sự với những trang giấy."


***

Lời hứa suông của chàng trai trẻ mãi tới sáu năm sau mới được thực hiện một cách vô tình. Vì bà ngoại qua đời và gia đình đem bà về quê an táng, nên anh đi theo. Tang lễ xong xuôi, anh đi lang thang ngắm lại miền quê nhỏ, đi ngang nhà của cô em năm xưa thì chợt dừng lại một hồi lâu. Trong lòng anh bây giờ các cảm xúc không rõ rệt gì cả, mất người thân, kỷ niệm ùa về, tưởng tượng nếu gặp lại em thì biết cư xử sao đây. Đứng nhìn ngôi nhà nhỏ và chìm đắm trong mớ suy nghĩ mông lung đó chưa được bao lâu, bỗng có tiếng bước chân nhè nhẹ từ phía sau đi tới, rồi phớt qua anh cứ như không. Dáng một người con gái mảnh khảnh xách một cái giỏ đựng rất nhiều trái đậu bắp non mới hái vào. Cái mùi quê mùa kèm theo khiến cậu càng thêm bồn chồn, đúng là cái mùi hồi đó rồi. Cô cứ thế bước qua anh mà đi, coi anh như một kẻ đi đường tò mò ngang qua mà thôi, cho đến khi:

- Xin lỗi, có phải… - Tiếng của chàng trai.

Cô gái quay lại, nhìn anh. Hai người đứng như thế nhìn nhau cứ như mỗi một cá nhân có một cuộc độc thoại trong đầu về người kia vậy. Thế rồi, trời bỗng đổ mưa, anh đành vào nhà trú tạm. Người ta nói mỗi khi trời mưa mà có một người vào nhà người kia trú tạm là tất sinh chuyện. Bữa đó sét đánh dữ lắm, trời mưa khá lâu, và có bà mẹ tốt bụng ngồi cùng hai cô cậu để hỏi han, gợi lại chuyện xưa làm cho không khí thêm phần thân thiện và chừng mực.

Sáu năm trước, tình cảm là trò chơi trẻ con, có lẽ không có gì ngoài sự ngây thơ. Nhưng bây giờ thì khác hẳn, ai cũng lớn hết cả và hình như họ có cảm tình ngay từ cái nhìn đầu tiên hay sao. Nhưng cái thói cũ vẫn trở lại theo một cách y như cũ, anh chàng lại hứa:

- Cuối tuần anh sẽ về thăm em, có thể chúng ta sẽ cùng đi đâu đó chơi vào dịp tết này nữa.

Trên đường về nhà, anh cảm thấy đầy tội lỗi vì cảm thấy vui trong ngày tang lễ của bà ngoại mặc dù niềm vui đó không liên quan gì đến việc bà qua đời. Trong khi đó, bà mẹ nhìn cô con gái rồi chỉ biết lắc đầu và bảo:

- Mẹ nhìn cái thằng đó coi bộ nó chưa lớn đâu con ơi, đừng có hy vọng quá.

- Lớn vậy được rồi mẹ à. – Cô nhanh nhảu đáp lại.

Bà mẹ chỉ biết lắc đầu.

Cô năm đó vừa tốt nghiệp phổ thông xong, tròn mười tám, còn anh thì hai mươi lăm tuổi. Cô không học tiếp mà tự học làm nông dân ở nhà và cô không phải là một nông dân bình thường mà là một nông dân có tham vọng, nhìn cách cô đầu tư cho hệ thống tưới tiêu thì đoán được. Còn anh thì sắp sửa được tín nhiệm cho đi xa học cao hơn.

Ái chà, lại nữa!

***

Một sáng sớm ở phòng thí nghiệm của ba năm sau:

- Đi vui vẻ nhé mạy, để cái cặp da này lại tao xài cho. – Một cậu bạn thân làm cùng phòng nghiên cứu chúc mừng anh có việc làm mới.

- Ừ, cho mày đấy. – Anh hào phóng và nhướng mắt một cái nói với bọn bạn làm cùng:

- Tao không mang hết đồ theo được đâu, bọn mày xem cái gì xài được thì lấy về mà xài.

- Trời, quyển tập lạ quá, làm như học sinh. – Một cô cầm nó lên, thổi lớp bụi dày ba năm rồi lật ra bên trong xem, thấy đẹp đẹp nên đem bỏ lên bàn mình.

Bỗng anh tiến đến cầm tay cô lúc cô đang định để quyển tập xuống bàn khiến cô giật mình, mắt anh nhìn chằm chằm vào nó, rồi bảo:

- Em cho anh xin lại món này, mấy cái khác các em tha hồ lấy.

Anh cầm quyển tập trên tay, bỗng đôi mắt dần dần đỏ hoe, anh vừa đi vừa lật từng trang ra, hình những bông hoa ép in lên những trang giấy cũ chưa có một dòng chữ nào. Đoạn anh lao ra xe, đi liền một mạch về quê.

Đấy, anh là thế, lại thất hứa nữa rồi đấy. Từ buổi gặp lại người em gái dưới quê xong, anh trở lên, lòng phơi phới như vừa tìm thấy người tri kỷ vậy. Đúng là họ bị "sét đánh" thật. Đừng hỏi tại sao lại có thứ tình cảm đó. Có lẽ cái duyên đâu tận từ hồi nhỏ. Có lẽ là vậy. Nhưng anh biết mình có thể phải làm việc ở nước ngoài, cũng có thể không, chẳng có gì chắc chắn và ổn định ở cái tuổi hai mươi mấy này của anh cả, nên anh nói với cô rằng hãy là bạn tâm giao với nhau thôi vì anh chẳng thể hứa gì hơn cả. Nhưng cái mối tâm giao mà anh đề nghị đó anh cũng không giữ nổi. Ba năm qua không có tâm cũng chẳng có giao cái gì hết trơn. Bức thư cuối cùng mà cô nhận có lời hứa của anh là sẽ về thăm cô.

Đó là cả một ngày mệt nhọc. Anh nghĩ ngợi mông lung trên đường lái xe, "không biết bây giờ em ấy thế nào, liệu em có lấy chồng chưa, có thể có con rồi nữa. Nếu mình gặp em lúc này, có kỳ không? Nhỡ chồng em ở đó thì sao trời." Nghĩ tới đây anh bỗng dừng lại, một thoáng sợ hãi, "mình làm gì nếu gặp em đứng với chồng em?". Không hiểu sao anh lo một cách thái quá như thế khi mà cô em năm xưa bây giờ chỉ mới hai mươi mốt thôi. Nhưng gạt qua sự e ngại, anh quyết định đi tiếp. Chắc cũng vì anh sắp đi làm việc ở nơi xa nửa vòng trái đất lận. Nghĩ tới đấy anh cảm thấy can đảm kỳ lạ, giống như nếu không can đảm thì sẽ mất hết vậy. Mà mất cái chi chứ? Anh đã quên người em gái nhỏ tính tổng cộng cũng đến mười năm rồi còn gì. Và cũng đáng đời anh lắm, vì người ta có vẻ cũng quên anh rồi hay sao đó.

Nhà bà ngoại vẫn vậy, ngôi trường cũ vẫn vậy, ngôi chùa xưa vẫn ở đó, bức tượng Quan Âm vẫn sừng sững bên ngoài, nhưng có một thay đổi lớn, đó là những cánh đồng đậu bắp đã thay bằng quán sá. Một nỗi tiếc nuối bỗng tràn vào anh khi đi lại con hẻm cũ, nó rộng hơn gấp hai lần, nhưng thấy hai quán cà phê và một khoảng đất trống đăng bảng "bán đất, liên hệ…" thay cho mấy đồng bậu bắp năm nào. Không biết sao hôm nay anh bạo lắm, liền rút điện thoại ra gọi theo số đó, giọng bên kia nghe xong, anh nói:

- Dạ chào anh, tôi muốn hỏi về mảnh đất đăng bán ở sau chùa….

- Dạ, em bán đất chính chủ luôn anh ạ, anh đang đứng ở đó hay là sao, em chạy tới liền.

Khi hai người gặp nhau, người ta lịch sự mời anh uống cà phê. Hỏi han qua lại, anh mới phát hiện họ cũng chỉ là cò thôi, chủ thật của miếng đất thì họ không cho biết. Việc cơ quan réo gọi khiến anh phải quay về thành phố. Anh bận bịu túi bụi để chuẩn bị cho công tác mới ở nước Mỹ nên có phần xao lãng việc tìm em, nhưng chủ yếu do anh nghĩ có lẽ em ấy đã đi lấy chồng rồi và nếu mình đến thì sẽ khó xử lắm, đặc biệt khi mình chưa có vợ con gì. Trước khi lên máy bay, anh lại về quê một lần nữa, anh hỏi làng xóm chung quanh, họ bảo rằng mẹ con em bị cháy nhà rồi sau có người tới gạ mua đất, lúc đang cần tiền nên bán luôn rồi dọn đến chỗ khác ở, vị trí xa lộ cái hơn nên đất rẻ tiền hơn, chuyện cách đây đã hơn một năm rồi. Anh hỏi thêm thì người ta chỉ cho anh nhà của họ, và anh tức tốc đến ngay. Vừa đi mà anh vừa sợ, lại nỗi sợ đó, anh sợ gặp em và chồng em và có thể nhìn cảnh em mang bầu hay bế con nữa, eo ơi! Nhưng như có ma lực kéo đôi chân anh cứ bước qua các cánh đồng hoa màu nọ, trong đó có hai cánh đồng trồng đậu bắp đương trổ bông, dẫn tới nhà em. Bà mẹ thấy anh liền nhận ra sau một thoáng, bà mời anh vào ngay, nhưng tiếc thật, hôm đó không có em của anh.

- Em con đâu rồi bác. – Anh vừa hỏi vừa nhìn quanh nhà.

- Nó lên thành phố có công chuyện rồi con.

Anh chóng tay lên trán lộ ánh mắt hụt hẫng nhìn bà mẹ già. Bà dường như hiểu ý nên bảo:

- Bác sẽ nhắn lại với nó có con ghé thăm.

- Em ấy lên trển chừng nào mới về bác? – Anh tò mò.

- Nó tiễn một người bạn đi ngoại quốc, chắc đến tối mới về tới đó con. – Mẹ em cho hay.

Anh như mở cờ trong bụng, tám tiếng nữa anh cũng phải có mặt ở sân bay mà. Rồi anh ngắm nghía quanh nhà cố tìm vật dụng nào in dấu người em. Anh phát hiện mấy tấm hình lộng trong tủ kiếng. Tháng ghi trên hình cho thấy nó được chụp gần đây thôi, trong hình là cô gái đứng ôm một chú chó con nhồi bông trong vườn cây, dưới chân có rổ đậu bắp mới hái, trên tay cô cầm một đóa hoa màu vàng nhạt. Anh chỉ vào hình và hỏi bà mẹ:

- Em con ngày một lớn càng xinh đẹp ra, có người yêu chưa bác?

- Có rồi con ạ. – Bà mẹ đáp.

Bỗng mặt anh biến ra bí xị, nụ cười mỉm lúc hỏi tắt mất. Mẹ của em có biết con của bà yêu anh nhưng bà không thích thằng con trai nào, kể cả của bạn bà dám làm khổ con gái bà. Bản năng làm mẹ của bà trỗi dậy và khiến cho bà nói tiếp:

- Bác hỏi nó có thương ai chưa, nó luôn bảo là có rồi nhưng không nói với bác là ai. Hôm sinh nhật vừa rồi nó tự đi mua quà cho mình rồi chụp hình làm kỷ niệm như vậy đó. Bác tưởng nó mua phấn, son hay quần áo gì chứ, ai dè đi mua cái gối ôm hình con chó. Đúng là, lớn rồi mà cứ làm như hồi còn con nít không bằng.

Anh nghe xong mà thoáng ớn lạnh bác gái, cảm tưởng rằng nếu anh mà giỡn với con bà thì bà sẽ không để yên cho anh đâu. Nhưng anh đâu phải con người đó nữa, chỉ có "hơi" vô tâm "chút xíu" thôi, "chút xíu" cỡ ba năm thôi chứ đâu có đến nỗi bỏ luôn đâu, hôm nay anh đã chạy một mạch về đây đây nè. Nhưng anh thông cảm cho mẹ em lắm, nếu là anh chắc cũng không dễ dãi hơn thế này. Vậy là biết tình hình của em ra sao rồi, anh cũng thấy vui trong lòng, đặc biệt hơn là biết em vẫn còn nhớ đến anh. "À, mà hình như là em ấy cũng thương mình", anh lâng lâng sung sướng trong lòng với ý nghĩ đó. Không chần chừ gì nữa, anh từ giã mẹ em rồi ra sân bay liền. Trước khi đi, anh có viết vội một bức thư cho cô và khi đi ra ngoài ngõ, anh quay đầu lại nói với bà mẹ rất thành thật rằng:

- Con cũng thương em.

Năm tiếng sau, anh đã có mặt ở sân bay, anh đi ngóng qua ngóng lại, tìm ở ngõ này ngách kia mà cũng không thấy người con gái nào như trong hình. Bỗng anh trách mình ngu quá, sao lúc đi không hỏi mẹ của em trước xem hôm nay em mặc đồ gì, rồi anh lại đổ tại mẹ của em làm anh ớn lạnh nên sơ ý. Ba mẹ của anh đã về rồi, bấy giờ anh thấy mệt, ngồi thẫn thờ ở một góc trong ga quốc tế của sân bay.

Về phần người em gái nhỏ, cô bảo với mẹ rằng hôm nay đi tiễn một người bạn ra nước ngoài. Lúc mẹ cô hỏi người bạn đó là bạn nào, đi nước nào thì cô chỉ bảo là một người bạn cũ, quen lâu rồi. Mẹ cô hỏi nam hay nữ, thân thiết dữ như vậy mà sao không thấy mời về quê lần nào cả, thì cô trả lời với mẹ rằng cô có nhiều bạn với lại không phải bạn nào cũng tiện về quê chơi cả. Thế là cô lên đường, đến sân bay từ đầu chiều, đi qua đi lại ở đấy, tìm một người mà chính cô cũng không chắc là muốn gặp lại mình. Cuối cùng, lúc chuyến bay đang được chuẩn bị để cất cách, cô thấy bóng một người con trai mặc áo khoác xanh đen dài tới đầu gối, bên trong mặc quần tây xám và chiếc sơ mi nhạt màu bỏ thùng, kéo hành lý bước qua người kiểm soát mà đầu còn ngoái lại nhìn xung quanh. Cô nghĩ có lẽ anh đang cố nhìn quê hương lần cuối trước khi đi xa chăng? Người bạn đứng bên cạnh, kéo tay cô bảo:

- Thôi, người ta đi rồi, về thôi. Việc gì mà phải khổ thế.

Người bạn học cùng lớp hồi xưa chơi rất thân với cô và biết tình cảm của cô dành cho anh. Lớn lên, nó cũng đỗ vào trường mà anh đã từng học. Nó biết và nhận ra anh sau một lần anh về trường cũ để nói chuyện với tân sinh viên mà trong đó có nó. Sau, nó về quê kể lại cho cô nghe, cùng năm cô gặp lại anh dịp tang lễ của người bà. Bởi vậy nên dù anh không thư từ và liên lạc gì với cô nữa thì cô vẫn biết về anh. Thông qua bạn mình, cô muốn gặp lại anh một lần nhưng một phần vì giận anh đã hứa về thăm mà không về, một phần vì thấy mình quê mùa, bình dân quá không xứng với anh lắm nên cô rất lưỡng lự. Nhưng cô lỡ yêu anh mất rồi thì biết phải làm sao đây, rồi thế là cứ ôm nỗi nhớ và trông chờ như vậy hoài. Cuối cùng ngày tháng bỏ mặc ý định của cô đến lúc cô nghe nhỏ bạn báo tin là nó có chơi với đám bạn mà trong đó có một người là lính mới trong nhóm thí nghiệm của anh, bảo là anh sắp đi Mỹ làm việc thì cô như mất hết hy vọng, chỉ nuối tiếc một chút gì đó trong lòng khiến cô quyết tâm đến nhìn anh một lần cuối rồi sẽ từ bỏ luôn.

Bị nhỏ bạn thúc giục nhưng cô không về, cô muốn thấy anh khuất hẳn cũng như muốn nhấn nhá thêm ít lâu để cho cái sự lòng nó cởi bỏ hết ở sân bay này luôn, khỏi phải mang cái gì về nữa để sinh chuyện mai sau. Nhưng được chừng gần mười lăm phút, cô thấy anh trở ra ngồi ở hàng ghế chờ đợi như còn lưu luyến ai vậy. Bỗng cô muốn đến gần ngồi cạnh anh quá, mà điều gì cản cô chứ? Thế là cô tiến đến, chầm chậm từ phía bên hông, giả vờ làm người dưng rồi nhẹ nhàng ngồi xuống ghế kế bên, tim đập thình thịch không dám nhìn anh mà lại cuối đầu xuống. Còn anh lúc đó anh đang gục đầu trên tay không thèm để ý gì đến xung quanh nữa. Hai người cứ như vậy một lúc rất lâu thì anh bỗng đứt phắt dậy đi một mạch vào khu vực cách ly rồi biến mất. Bấy giờ cô mới thả lỏng người và nhìn lên, nước mắt hai hàng, đứng dậy đi ra nói với nhỏ bạn:

- Về mày.

Nhưng nhỏ bạn đó của cô đã làm một việc thật… hết sức ý nghĩa. Nó chạy theo kêu anh à? Không, cô đâu có chơi với người không có sĩ diện. Nhỏ bạn đó chỉ đứng từ xa, chụp một bức ảnh lúc anh và cô ngồi ở hàng ghế mà không ai nhìn nhau hay nói với nhau câu nào đó thôi. Sau sẽ nói đến bức hình được nhỏ bạn này xử lý thế nào. Nói tiếp chuyện từ sau khi lên sân bay của cô gái. Trên đường về quê, cô suy nghĩ miên man, tình cảm cứ dâng tràn khi nhớ lại hình dáng của anh nhưng cô tự cởi bỏ hết, những hồi tưởng về anh của em ngày xa xưa khiến cô cười mình sao mà dại khờ ghê. Rồi cô nhớ tới những cánh đồng đậu bắp của mình, nhờ có cô mà nó ngày càng phì nhiêu ra, ngày càng rộng hơn, cô cũng còn cả một tương lai chứ bộ.

Đối với cô, chuyện đến đây tưởng như là kết thúc nhưng khi về nhà, cô được mẹ kể cho nghe rằng cái anh năm xưa có đến thăm và khi đi còn xin vài đóa hoa đậu bắp mang theo. Mẹ cô cười bảo:

- Mẹ đã nói là cứ ngắt đại đi, có mấy bông thôi mà làm chi phải nhắn gửi dữ vậy. Nó nằng nặc không chịu, đòi mẹ phải về nói lại với con là nó xin mấy bông hoa, cho đúng với tinh thần tôn trọng chủ vườn của nó.

Rồi mẹ của cô đưa cho cô một bức thư:

"Ngày… tháng… năm…

Anh về thăm em nhưng không thấy em. Anh xin lỗi vì ba năm mới thực hiện được một nửa lời hứa của mình. Anh vô cùng xin lỗi em. Em hãy giữ gìn sức khỏe. Anh không dám hứa cái gì nữa. Cho anh xin mấy bông đậu bắp đang trổ ngoài vườn, anh mang nó theo tận sang Mỹ lận đó. Dù em có lấy chồng và sinh thật nhiều con đi nữa, anh vẫn sẽ về thăm em, anh hứa, anh hứa, anh hứa… "


Cuối bức thư là hình một chú chó con.

Nếu bảo anh hơi ác cũng không phải là quá sai vì khi viết những lời đó là sẽ khiến một người như cô chờ đợi. Chẳng biết anh có cố tình hay không, nhưng đúng thật là thâm lắm.

***

Sau khi sang bến bờ mới một thời gian không lâu thì công việc bắt đầu nhiều lên, chiếm gần hết thời gian để nghĩ về chuyện yêu đương. Với lại, anh nghĩ đã viết trong thư cho cô em nhỏ như thế thì chắc em ấy sẽ hiểu là anh sẵn sàng đón nhận việc em đi lấy chồng và coi anh như anh trai mà thôi. Ngặc nỗi, suy nghĩ trong đầu của đàn ông như anh với người phụ nữ như cô có khác nhau. Anh thì nghĩ rằng chắc cô sẽ thoải mái mà đi tìm tình yêu mới, nhưng thực sự thì cô đọc thư của anh thì nghĩ rằng anh bảo "hãy chờ anh". Và cô hành động như những gì cô nghĩ, còn anh thì hành động như những gì anh nghĩ.

Hai tháng sau ngày đi xa, anh gửi cho cô một bức thư, nói bằng cái giọng điệu của người anh dành cho em gái:

"…lúc đó, anh sẽ tặng em một bộ áo cưới… "

Anh nghĩ rằng anh đang dùng cách nửa đùa nửa thật để thử lòng cô và cô sẽ hiểu mà đáp lại anh theo kiểu như "em sẽ chỉ mặc áo cưới nếu chú rể là anh thôi". Nhưng điều mà cô thực sự nghĩ là "ảnh không muốn cưới mình". Rồi cô hành động như cô nghĩ.

Nhân lúc việc trồng trọt khắm khá hẳn và để tiện vận chuyển hàng lên thành phố, cộng với việc muốn mở rộng quy mô, và cũng muốn đi phứt cái miền quê đầy kỷ niệm dở dang này, nên cô mang hai mẹ con đi đến ngoại ô thành phố đó định cư. Khi đi, cô chỉ từ giã hàng xóm mà không nói gì về nơi đến cả. Xem như mất dấu cô từ đây. Lúc anh gửi thư về, người ta trả lại, anh bàng hoàng muốn chết đứng. Thế là anh sắp xếp công việc để năm đó được về nước, nhưng chỉ có thể đi bốn ngày mà thôi. Lần đó anh không tài nào tìm ra cô nên trở qua Mỹ mà lòng nặng trĩu và bị trầm cảm một thời gian. Cứ thế, một năm nữa trôi qua.

***

[Thung lũng Silicon, California, Hoa Kỳ]

Nắng buổi sớm chiếu ấm mặt đường dẫn vào phòng thí nghiệm của công ty, anh đặt lưng thoải mái trên lối đi và mơ mơ màng màng về quê hương. Bên tai anh còn văng vẳng vài đoạn trong bài diễn thuyết nghe hồi tối qua. Vị diễn giả gốc Ấn đã giảng về nghiệp, về thái độ sống của con người, về cái cách mà người ta hành động và trông đợi vào hậu quả dường như còn tréo ngoe với nhau. Đại loại người ta đi trong sa mạc mà trông chờ nghe tiếng sóng vỗ vậy. Chúng ta thường làm một đằng và hy vọng một nẻo, rồi trách cứ khi mọi việc không được như ý. Nhiều kẻ than vãn rằng tại sao tình yêu không đến với họ mà không chịu hỏi mình đã yêu như thế nào.

"Mà không chịu tự hỏi mình đã yêu như thế nào." – Anh lẩm bẩm một mình, đoạn mỉm cười rồi ngồi phắt dậy. Anh quyết định sẽ để trái tim dẫn lối, yêu một cách ngây thơ không màng thời gian, chỉ đơn giản là yêu thôi. Và anh quyết định sẽ về thăm nhà và miền quê kỷ niệm mỗi năm.

Năm đó về, anh tìm đến xóm nhà cô hỏi han chung quanh nhưng cũng không ai hay biết, cô chuyển đi xa hẳn nên hàng xóm không nghe tăm hơi gì hết. Buồn quá, anh lang thang về ngôi chùa cũ, ngước nhìn tượng Quan Âm, anh nhớ hồi xưa anh đã cầu nguyện, giờ anh lại đứng đây và cầu nguyện lại điều ấy:

"Con xin người cho con gặp một ai đó hiểu được lòng mình."

Rồi anh ngồi xuống trên thềm sân chùa nhìn xung quanh như tìm một hình ảnh nào đó…mà không gặp được.

Năm sau anh lại về miền quê nữa. Anh đi tìm một cánh đồng đậu bắp gần quê, xin người ta cho hái chung, anh cũng sẵn sàng trả tiền cho họ để được thoải mái hơn. Mục đích của anh không phải để hái đậu bắp mà là để tìm lại cái hương quê ngày xưa với cô em nhỏ. Anh hay ngồi thơ thẩn một góc vườn, cầm một đóa hoa màu vàng nhạt ngắm nhìn rồi cẩn thận đặt nó vào cuốn sổ nhật ký và gấp vào, anh thực hiện lại thói quen ghi chép này của mình từ cái hôm nằm trên mặt đường ấm áp đó.

"Ngày… tháng… năm…

Đậu bắp giữa mùa hè, mới hái xong, thơm quá. Anh nhớ em."

"Ngày… tháng… năm…

Anh nhớ em quá."

"Ngày… tháng… năm…

Anh yêu em."

"Ngày… tháng… năm…

Em ở đâu?"


***

Đến đây xin trở lại với bức hình mà người bạn kia đã chụp anh và cô ở sân bay. Người bạn đó muốn giúp cô nên tìm cách dò hỏi địa chỉ của anh bên Mỹ để gửi cho anh bức hình này, để nói cho anh biết hôm đó cô đã đến, đã ngồi ngay bên cạnh anh đấy, vậy mà anh không thèm quay sang dù chỉ một lần, và rằng người em gái nhỏ của anh là một kẻ sĩ diện đến mức làm khổ mình, yêu mà không chịu nói, nhớ anh dai dẳng mà không chịu viết thư. Trong lúc dò hỏi đó thì cô bạn quen được người bạn làm chung phòng thí nghiệm với anh giờ đã chuyển sang làm kinh doanh có công ty riêng. Duyên của anh và cô còn chưa nên phận gì thì duyên của hai người đó đã kết họ lại thành một đôi và đang đợi năm sau sẽ kết hôn. Về bức hình, sau khi chụp xong, cô bạn rửa ra đưa cho cô xem và để lộ ý định của mình nên bị cô ngăn cấm, cô năn nỉ bạn mình hãy xé bức hình đi và đừng gợi nhớ gì về con người đó với cô nữa. Cô bảo cô cần thời gian để quên mà còn yêu người khác nữa, nếu như bạn cô gởi cho anh ta thì cô sẽ lại bị kéo lại vào trong vòng xoáy đau khổ này, cô như cầu xin bạn mình đừng hành động đường đột làm ảnh hưởng đến cô như vậy. Bạn cô nghe xong cảm thấy chí lý nên cũng từ bỏ ý định đó, họ đốt tấm phim ảnh và coi như chấm dứt mọi chuyện từ đây. Bạn của cô xem đây là bí mật và cũng chẳng khi nào kể cho anh bồ của mình nghe về điều này cả.

Nhưng nói là nói vậy thôi, lòng cô cô hiểu ơn ai hết, tình cảm của anh anh rõ hơn ai hết. Hai người bạn kia không ai biết cô vẫn lòng nhớ thương anh nhiều lắm, và anh thì năm nào cũng về quê chỉ để sống những ngày mà anh yêu. Anh và cô như thế, họ giống nhau kỳ lạ ở điểm này. Họ yêu nhưng không cần đáp lại và để cho cuộc sống tiếp diễn. Người ta hay nói nồi nào vung nấy hẳn cũng phải có lý gì của nó vậy.

Thế nên.

Năm năm sau (từ lúc ở sân bay), hai người bạn kia định ngày tổ chức hôn lễ. Cô bạn đến nhà cô đưa thiệp mời và nán lại một lúc lâu để trò chuyện, tình cờ phát hiện tấm hình mà cổ chụp hồi đó lúc ở sân bay trong chồng hình ảnh của cô.

"Mày bảo tao đốt phim đi, nói đủ thứ khiến tao tin là mày như muốn dứt tình và muốn giải thoát vậy. Thế mà cái tấm này lại không chịu bỏ mà giữ đến bây giờ đây. Thảo nào hỏng chịu lấy ai khác." – Người bạn lầm thầm.

Đoạn cô ấy bỏ tấm hình lọt vào cổ áo rồi than đau bụng đòi đi vào nhà vệ sinh. Ra xong thì cáo biệt, hẹn gặp lại vào tiệc cưới.

Sau đó, anh cũng nhận được tin hỷ từ bạn của mình. Bạn anh ngỏ ý sẽ rất vui nếu anh sắp xếp về quê được vào dịp cưới của mình:

- Mày coi thử xem về được không, có mày thì vui lắm, phòng mình thiếu mỗi mày đó. Đời này chắc tao cưới có một lần này thôi mày ơi, bả (ý nói vợ chưa cưới của anh ta) dữ lắm, khà khà khà… – Giọng anh bạn rè rè qua điện thoại.

- Ha ha ha…Tốt cho mày. Nhưng tao không biết có về được vào dịp đó hay không nữa vì nó không đúng kế hoạch hằng năm của tao cho lắm. – Anh e ngại một chút.

- Tao bảo đảm mày về lần này sẽ không phí đâu, bất quá về ba ngày rồi qua, sau lại về tiếp theo kế hoạch của mày, mày sợ tốn tiền thì tao cho. Còn mà không về ăn cưới của tao thì mai mốt đừng có gọi tao là chiến hữu nữa đấy nhé.

- Mày làm gì mà ghê thế. Cùng lắm là tao về ít ngày ăn cưới mày thôi rồi đi chứ gì mà to tát.

- Ừ, ráng đi, đợi mày đó. À, mà mày thích ăn gì để tao đặc cách làm riêng cho thằng bạn bay nửa vòng hành tinh đến ăn đám cưới của tao?

- Mày chuẩn bị món gì mà ít cao siêu, cỡ như Lang Liêu làm bánh chưng bánh giày dâng vua Hùng hồi xưa là được rồi, tao không cần hơn đâu. Ha ha ha…

- Mẹ kiếp, bạn với chả bè. Đúng là chiến hữu của tao. Tao sẽ cho mày đậu bắp non mới hái vào ăn sống chấm mắm ruốc, phê lắm con ạ. – Thằng bạn nó vờn anh.

Anh nghe xong bỗng thấy hơi ớn lạnh pha chút hồi hộp, chỉ cười khịt một cái rồi thôi. Cuộc trò chuyện dần dần chấm dứt sau mấy câu hỏi than và căn dặn như thường lệ. Anh không hề biết rằng bạn của anh, thông qua vợ chưa cưới của mình_ tức là bạn của cô, đã biết chuyện yêu đương của hai người.

***

Ở đám cưới

Họ tổ chức nó ở một khách sạn trên thành phố, có khá đông người đến nên nếu anh và cô có tới đủ cả cũng không dễ nhận ra nhau. Rốt cuộc tiệc cũng bắt đầu, cả hai đếu có mặt. Anh ngồi ở bàn của bạn chú rể trong khi cô ngồi ở bàn các bạn của cô dâu và chúng cách xa nhau vì khu vực chính giữa phòng là bàn của các bậc trưởng thượng và bà con họ hàng. Bởi muốn để cho cả hai bất ngờ, ngoài ra cũng là để cho bữa tiệc không mất vui nếu lỡ hai con người thích làm khổ nhau này mà gặp nhau rồi sinh chuyện thì sao, cho nên anh bạn và cô bạn kia không đả động gì đến chuyện của anh và cô. Cho đến khi tiệc dần tàn, món tráng miệng đã được dọn lên, anh mới tiến đến hỏi thằng bạn vì anh nhớ tới câu nói "muốn người ta không biết thì đừng làm" và nghĩ tới việc mấy năm qua anh đã làm cái gì mà thấy hơi tò mò về cái món ăn mà bạn anh nói hôm nọ:

- Đậu bắp non mới hái ăn sống chấm mắm ruốc của tao đâu? – Anh hỏi với vẻ muốn đòi cho được lắm.

- Mày đi theo tao. – Bạn anh tách anh ra cho dễ "làm việc".

Người bạn dẫn anh đi đến bàn của cô ngồi nhưng không thấy đâu, chính anh ta cũng hơi tẽn tò một chút vì sự bất ngờ này. Đoạn anh bạn kia gọi cho vợ mới cưới đến và hỏi thì thấy cô ấy đang loay hoay qua điện thoại xong đi vào với bộ mặt cũng tẽn tò như anh chồng. Hóa ra là em gái nhỏ của anh đã nhận ra anh từ xa và cáo mệt ra về sớm để tránh gặp nhau. Cô giả bộ như không nghi ngờ gì về khả năng sắp xếp của hai vợ chồng người bạn.

"Tao thấy hơi mệt, tao về trước đây, có gì sẽ gặp mày sau. Đừng lo lắng, tao còn đủ khỏe để tự lo được. Chúc mày đêm tân hôn vui vẻ nhé." – Tin nhắn của cô cho bạn.

Thấy hai vợ chồng bàn cái gì đấy, anh hỏi:

- Có chuyện gì thế?

Anh chồng bảo vợ đưa tấm hình ra cho anh xem. Anh cầm nó, nhìn đăm đăm vào một hồi rồi quay lưng đi chỗ khác, vừa đi vừa nhìn vào tấm hình tiếp, thỉnh thoảng anh ngẩng mặt lên rồi ngước hẳn lên trời, xong lại nhìn xuống tiếp. Anh thấy y như cái hình ảnh ngày xưa, lúc cô em nhỏ gọi tên cúng cơm của anh xong thì thấy sờ sợ và đã cuối đầu xuống không dám nhìn lên anh y như thế này đây. Lòng anh rộn ràng cảm xúc thuở nào, thuở lần đầu biết yêu nhưng rất chi là e ngại. Anh quay lại hỏi vợ chồng bạn mình:

- Sao lại có bức hình này?

Cô bạn mới kể rõ sự tình cho anh hay và cũng không quên nói là em gái nhỏ của anh đã đi về được hơn hai mươi phút rồi. Họ cũng khuyên anh, nếu có ý định đuổi theo thì hãy gác lại vì chắc chắn cô không về nhà ngay đâu, để sáng mai đến luôn thì thể nào cũng gặp. Anh nghe lời và tối đó về trằn trọc không ngủ được.

Sáng sớm, đường đến nơi cô ở bây giờ cũng có dòng sông, có ruộng đậu bắp rộng khắp, nhưng lối vào thì không còn mấp mô và khúc khuỷu như miền quê năm xưa nữa. Vài cảnh vật như được cố tình làm cho quen thuộc, anh dừng xe ở một bãi đỗ cách xa nơi này. Anh mon men đi vào, trên tay cầm địa chỉ nhà cô, nhưng có vẻ khó tìm quá. Lại lạc nữa, anh nhủ thầm "Sao đời mình hay lạc người ta quá vậy nè". Anh bèn hỏi đường, gặp một chị bị câm chỉ đường bằng cách quơ tay. Chị ấy chỉ anh đến ruộng của cô nhưng hình như có ý gì đó nghi ngờ lắm. Anh đoán thế thôi vì thấy chị ấy không được nhiệt tình, cứ nhìn anh, nhưng anh không nhìn lại được vì chị đội nón lá và mang một chiếc khẩu trang che gần kín mặt. Anh theo lời chỉ dẫn cũng đến được nhưng không có ai ở đó. Anh ngồi chờ rất lâu, hơn bốn tiếng đồng hồ nhưng cũng không có ai. Hết buổi trưa, anh bỏ đi. Anh theo bờ kênh dẫn nước, rồi khuất bóng. Lúc đó, cô mới trở về, khi chắc là anh đã đi hẳn, cô mới giở chiếc nón lá ra, tháo khẩu trang xuống, cởi chiếc áo khoác. Hôm nay chỉ có mình cô ở nhà vì cô đã cho những người làm thuê nghỉ và bảo mẹ cô đi xem hài kịch cả ngày. Trời chiều nhạt nắng chiếu xen kẽ qua những thân cây len trên nền đất, cô đi băng qua đồng đến bên bờ nước nghe tiếng nó chảy và nhắm mắt lại. Cô không biết việc giả câm này có thể giúp gì không, nhưng mà cô không muốn gặp anh, tránh được ngày nào hay ngày đó vậy, rồi anh cũng sẽ nản mà biến đi thôi, cô nghĩ thế.

Thật ra là cô cũng không hiểu rõ lòng mình nữa, sao cô lại không muốn gặp người mình yêu dai dẳng cả chục năm qua chứ? Sao lại phải tránh mặt khổ sở như vậy để làm gì? Hồi xưa, khi anh lên thành phố ôn thi, cô trông anh về thăm lắm, nhưng sau sáu năm anh thất hẹn, rồi gặp lại và thất hẹn tiếp ba năm, rồi nối lại và chính cô chủ động bỏ đi nên lại thất tiếp hơn năm năm nữa. Cô chuyển dần từ trông đợi sang sợ gặp anh. Cô có thể yêu anh và thật sự vẫn yêu anh lắm, nhưng để đến với cô thì hẳn là anh vẫn còn thiếu cái gì đó. Một chút nhiệt tình chăng? Một chút nhiệt tình đó chí ít cũng phải đủ để làm ấm lại trái tim nguội ngắt của cô vì bị bỏ rơi nhiều năm trời hoặc vì anh dở dở ương ương nữa. Nhưng có lẽ bởi một lý do nữa hơi ngớ ngẩn nhưng cũng có lý, đó là cô sợ anh có vợ rồi và chỉ xem cô như người em gái thôi. Cô để lộ nỗi sợ này trong một lần trò chuyện với mẹ. Bà ấy đã hỏi về anh và nghe cô bảo thôi: "Họ có vợ rồi không chừng, kệ đi mẹ, con cũng đâu thèm thuồng gì."

["Họ" là từ cô dùng để chỉ anh]

Sau khi lừa được anh đi xong, cô thấy khoan khoái hơn một chút nên đi vào nhà và ngủ một giấc. Cô nghĩ có lẽ anh chỉ đến thế thôi nên càng cho rằng anh đáng bị quên là phải. Mọi chuyện cứ như vậy đến lần thứ hai anh về nước trong năm đó, dĩ nhiên là cô không hề hay biết.

Từ khi bị cô xua tay đuổi khéo ở cánh đồng hôm đó, anh bỏ đi chẳng nói lời từ biệt hai vợ chồng người bạn gì cả, nhưng sang đến Mỹ xong anh có nói cảm ơn họ vì đã giúp anh tìm được nơi cô ở.

Như mọi năm, trời vào hạ thường là lúc các ruộng đậu bắp bắt đầu được thu hoạch, rồi từ đó lai rai đến mùa đông thì kết thúc, nhưng người ta đã kịp gieo vụ khác, thế là nó có quanh năm. Nhưng cái hương đậu bắp lúc mới hái vào đầu mùa hè, nó gắn với cái kỷ niệm ban sơ, nên luôn quyến rũ khiến lòng anh cứ xao xuyến mỗi lần trong biết bao năm qua.

Anh về nước thăm nhà và đi thăm quê ngoại dù ngoại của anh đã không còn sống ở đó nữa. Nhưng anh luôn bị hấp dẫn bởi cái không khí quê mùa còn sót lại sau những làn sóng đô thị hoá ở đó, yêu người thì vẫn yêu nhưng anh cũng yêu thiên nhiên, yêu đất nước quê anh nên cứ như vậy, dù không có cô bên cạnh, anh vẫn tận hưởng cuộc đời mình một cách trọn vẹn. Chính vì lẽ đó nên anh làm mọi thứ bằng một thái độ bình thản, như là thích chứ không như là cần. Bởi cô cũng là một người tương tự nên hai người coi bộ rất hợp nhau. Thảo nào cố đi xa cách mấy cũng có ngày tái ngộ.

Anh lại dựng xe ở một nơi xa để cô không để ý mà trốn mất. Có vài người làm thuê trong vườn của cô cùng với mẹ, anh cứ thế bước vào, gặp bà và cười tươi chào hỏi. Ai thấy anh cũng ngoái nhìn tò mò, không hiểu có chuyện gì nữa. Họ thắc mắc "thương lái gì mà bảnh bao quá vậy trời". Bây giờ mẹ của cô em gái mừng vì được gặp anh còn hơn cô nữa, không hiểu sao, chắc bà thấy có hy vọng "chống ế" cho con gái bướng bỉnh của mình. Bà dẫn anh vào nhà mời uống trà, ngặc nỗi bà kêu cô pha:

- Con gái ơi, pha giùm mẹ bình trà để mẹ tiếp khách quý.

Cô nghe giọng mẹ bảo là khách quý_ một kiểu gọi mà cô lấy làm tò mò nên đi lên xem đó là ai, đoạn khựng lại khi thấy anh, nhưng cô nhanh nhảu quay người đi xuống:

- Mẹ đợi con tí xíu.

Pha xong, cô mang trà lên rồi ngồi luôn vào bàn khẳng định vị thế của chủ nhà. Cô mở lời rất tự tin:

- Chào anh.

Anh thấy cô không còn e thẹn như xưa nữa, mà trông giống một nữ lưu sẵn sàng đánh tay đôi với bất cứ thằng nào dám léng phéng đến. Anh cố gây lại sự thân thiết:

- Anh Chó Con nè, quên rồi sao?

Cô gật đầu.

Anh khẽ cười gượng vì có hơi quê một chút. Mẹ cô thấy thế liền chữa cháy, nhưng bà chẳng những không chữa được mà còn làm ngọn lửa bùng lên thêm, tuy vậy mà lại hay:

- Con nhỏ không chịu lấy chồng con ơi. Nó nhớ con lắm đó.

- Anh cũng nhớ em. – Anh nhân cơ hội tiếp lời.

Cô cười mỉm xã giao rồi nói:

- Thôi, mẹ và anh đây ngồi chơi, con đi.

- Đi đâu vậy, nó về kiếm con chứ đâu có kiếm mẹ. – Bà mẹ nói.

Cô chỉ nhún vai một cái rồi bỏ ra ngoài vườn, anh ngồi trong nhà trò chuyện với bà mẹ được dăm câu cũng đi ra theo cô. Thấy cô anh tiến lại đứng kế bên hỏi nhỏ:

- Cái cô bị câm lần trước chính là em phải không?

- Phải.

- Sao hôm đó câm vậy?

- Em mệt anh rồi, làm ơn tha cho em đi.

Rồi cô im luôn, không nói gì nữa. Chỉ còn anh độc thoại:

- Nếu em nghĩ anh đã làm em phí phạm những năm qua thì anh cũng mong em hiểu cho, anh cũng mất chừng đó mà có làm nên được gì đâu. Anh vẫn một mình đây, mà thằng bạn anh thì lấy vợ rồi, người ta còn bảo nó lấy trễ nữa đó. Vậy anh thì sao? Anh cũng không cần biết làm gì, anh đâu có thèm lấy vợ sinh con, anh chỉ muốn lấy em thôi. – Anh dắt lên cổ áo của cô bức thư cũ đã gởi cách đây năm năm rồi quay gót đi.

Bức thư vẫn còn y nguyên chưa được mở ra. Đó chính là bức thư người ta trả lại vì không có người nhận hồi đó, bức thư cầu hôn của anh, trong viết rất rõ ràng và chân thật để anh tỏ tình với cô. Vậy mà nó không hề đến được với cô để cô cứ cảm thấy anh cư xử với mình không tới nơi tới chốn, không nhất quyết, không tự tin,… nói chung là thiếu cái gì đó khiến cô thấy anh có vẻ đang giỡn và thăm dò hơn là thành thật.

Đọc thư rồi, cô tiến đến chỗ anh và ngồi xuống bên cạnh, cô nhìn anh trong khi anh nhìn dòng nước. Anh không nói gì cả, cô mới mở lời trước:

- Có vẻ em đã trách lầm anh. Nhưng hình như không oan. Em bây giờ chẳng còn tình cảm gì với anh nữa, cũng không còn cảm xúc. Ta kết thúc ở đây luôn đi.

- Thật mà em không còn tình cảm gì nữa thì sao lại tránh mặt anh vậy?

- Vì nhìn nó chán quá anh ạ.

- Nhìn kỹ lại đi.

- Vẫn vậy.

- Anh không tin đâu.

- Đó là tại anh không chịu soi gương thôi.

- Thế sao còn giữ tấm hình? Vì trong hình có anh, chứ còn gì nữa.

- Chỉ vì một tấm hình chưa kịp bỏ mà anh hiểu lầm vậy à?

Nghe hai người sau đó to tiếng qua lại, bà mẹ vui lắm, bà bảo với vài người đứng xung quanh mình:

- Vậy là tốt, yêu nhau lắm cắn nhau đau, hè hè hè.

Mọi người cười ồ lên.

Ở bờ sông, cô kêu "anh thật ích kỷ", còn anh thì nói "em điên quá". Đoạn cô đi vào cánh đồng, anh đuổi theo, khuất sau những hàng đậu bắp cao cao. Lại nghe giọng của cô "một kẻ tự cao", còn anh đáp lại "ngang tàng quá". Còn thêm nhiều từ mà họ dùng cho nhau, đến khi không ai nghe tiếng của họ nói gì nữa. Thật sự là không ai nghe thấy tiếng họ nói gì nữa, chỉ có vài tiếng lá cây xào xạc trong gió. Rồi có một tiếc nấc, một tiếng hít mũi và sau đó là tiếng của anh, trầm trầm, ồ ồ như hòa chung dòng nước mắt:

- Anh xin lỗi. Anh yêu em.

Lại nghe thêm một lần nữa.

- Anh xin lỗi. Anh yêu em.

Rồi một lần nữa, rất khó khăn:

- Anh yêu em.

Có đến bốn lần như vậy nữa nhưng tiếng nói ngày một nhỏ dần vì nghẹn ngào.

Cả hai im lặng trong chốc lát,…

… trong chốc lát,…

… trong chốc lát,…

… im lặng,…

… im lặng,…

… im lặng,…

… rồi cô cũng khó nhọc thốt lên được một từ:

- Anh!

Thật ra, chỉ nhiêu đó thôi cũng đủ rồi.

---------------------------------------------------------

HẾT TRUYỆN

Wednesday, September 9, 2020

Khi thời gian không thể vô tình

Truyện này viết đã lâu, từng đăng lên blog rồi nhưng bị cảm nên xóa đi, giờ hết bệnh rồi nên đăng lại lưu đây, mai mốt già (nhỡ sống lâu) đọc lại để biết hồi trẻ cũng ở không lắm.
 

Khi thời gian không thể vô tình


Một ngày nọ, thần Bạch Dương_vị thần chủ quản thời gian ở trần thế đi ngao du tìm vui thú. Ngài đã nghĩ rằng việc để cho thời gian trôi đều đặn và tuân thủ theo khí trời đất mãi cũng nhàm chán, nên bèn tìm trò vui là thách đấu với các chư thần khác xem ai hơn ai. Ngài đi khắp các nơi, gặp đủ mọi vị thần, mặc dù mỗi thần đều có quyền năng vô đối riêng của mình và không thần nào có thể bị đánh bại hoàn toàn nhưng khi bàn đến cái vĩnh hằng thì ai ai cũng chào thua Bạch Dương vì không thứ gì có thể tồn tại mãi theo thời gian cả và không một thứ gì có thể khiến nó ngừng trôi. Thắng cuộc hoài nên Bạch Dương rất đắc chí và cao ngạo. Ngài xưa nay còn nổi tiếng là kẻ vô tình, không bao giờ dừng lại dù cho một sinh linh bé nhỏ nào dưới kia có van xin thống thiết đến đâu đi chăng nữa, và một khi Bạch Dương đã cho thời gian lướt qua rồi thì đừng hòng ai đòi quay lại được. Đã thế, có người toan ý để dành thời gian đến lúc cần thì xài, bị Bạch Dương biết chuyện nên làm cho thời gian không thể tóm được. Bởi vậy, thời gian luôn là thứ nằm ngoài tầm kiểm soát của con người. Mà thiên hạ cứ chấp vào thời gian, nên họ luôn bứt rứt, rầu rĩ; qua rồi thì tiếc, chưa tới thì trông, hiện tại thì không nắm bắt được. Rõ khổ!

Cùng lúc đó, trên núi Cao có một vị thần gọi là Thiên Bình, chủ quản tình yêu của vạn vật. Thiên Bình hiền dịu và luôn mang tới hạnh phúc cho các sinh linh tìm đến ngài. Nhưng Thiên Bình là vị thần không dễ dãi, ngài không bao giờ dạy ai cách yêu và không bao giờ cho định nghĩa về tình yêu. Ngài làm nản chí tất cả mọi kẻ đến để cầu xin tình yêu. Với Thiên Bình, tình yêu không phải là thứ do ban phát mà có nên đừng có mà cầu xin gì cả. Người ta cho là Thiên Bình vô tình nhưng thật ra khi người ta yêu thì họ đều hiểu được tấm lòng của ngài, đúng là một bậc đại lượng mới có thể vô tình đến vậy. Vì lẽ đó, Thiên Bình có một vị trí độc tôn mà chẳng cần thi thố gì cũng được công nhận, có lẽ do ai cũng yêu quý ngài. 


Thắng hết thảy mọi thứ trong trời đất, thần thời gian Bạch Dương tìm đến Thiên Bình là vị thần cuối cùng ngài muốn hơn thua. Thiên Bình không thích trò vui này của thần thời gian nên từ chối. Bạch Dương nổi giận, nghĩ thần tình yêu không nể mặt mình nên ngài trừng phạt nhân loại!

Ngài làm cho thời gian trôi vùn vụt, hết thảy cây cỏ, động vật và con người đều choáng ngợp trước cảnh tiêu trưởng diễn ra quá nhanh. Mùa xuân chưa chán thì hạ đã mau tới, hoa quả ăn chưa biết ngon thì lá vàng đã rơi, cảnh thu chưa họa xong bài thơ thì trời đã đổ lạnh, người còn đang phân vân chưa biết làm gì thì mùa xuân mới lại đến, cuộc đời chưa đủ mùi vị thì cái chết đã gần kề. Nhưng Thiên Bình vẫn bình thản, không hề hấn gì. Vạn vật quay cuồng trong cái chu kỳ sinh diệt của chúng và người ta thì vẫn yêu thương nhau. Điều đó làm Bạch Dương càng bực bội, ngài nhất quyết làm cho thiên hạ phải thấy rõ cái tàn phá mà thời gian có thể mang lại, rằng không thứ gì có thể tồn tại mãi được kể cả tình yêu. Nên một hôm, Bạch Dương giáng trần, tìm đến một đôi vợ chồng son, yêu nhau thắm thiết và định bụng phải thử thách hai con người này để xem tình yêu của họ mạnh mẽ đến thế nào. Ngài nghe nói thần không gian cũng phải kiêng nể thần tình yêu đôi phần nên càng muốn thử liệu mình có đánh bại được Thiên Bình không. Đã thế ngài muốn xem khi con người ta vật lộn với thời gian đang cạn kiệt thì còn có thể nghĩ đến người mình yêu hay là chỉ lo cho bản thân mình thôi. Và rồi, dù cho tình yêu có lớn đến đâu đi nữa thì nó có thể khiến thời gian dừng lại và trở nên bất diệt được hay không. Bạch Dương rất tự tin vào khả năng tàn phá và vô tình của thời gian. Ngài nghĩ cùng lắm là hai con người kia một chết một sống và tình cảm sẽ phai nhạt dần, hay dù có yêu nhau đến chết thì cũng chỉ là đến chết mà thôi, sau đó mọi thứ sẽ lui vào quá khứ, con người thì hóa ra tro bụi còn tình yêu đã theo họ xuống mồ từ lâu, sau hết, thời gian vẫn là vô đối.

Thế là ngài làm cho người chồng ngày càng có nhiều việc, ngày đêm làm quần quật mà cũng không xuể. Vài năm sau người quay lại thấy họ vẫn mặn nồng như xưa. Chẳng là người chồng làm việc nhiều quá nhưng người vợ thì không nên nàng ta cứ quanh quẩn bên chồng, giúp chồng thêm tay, thành ra tình cảm đã không những vơi đi mà còn thêm khắng khít. Thần Bạch Dương bèn nghĩ cách làm cho người vợ không thể gặp chồng mình. Ngài đến gặp thần không gian để nhờ mang người chồng xa cách vợ. Nhưng nơi nào người chồng đi rồi cũng trở về nhà. Ngài bèn bảo thần chiến tranh mang người chồng ra chiến trường và người vợ ở lại. Sự việc quả là có khó khăn hơn cho đôi trẻ nhưng bọn họ vẫn thư từ với nhau và thật lạ, chiến sự càng ác liệt, chia ly càng lâu dài, vợ chồng càng xa cách thì tình yêu của họ càng mãnh liệt. Thần chiến tranh không thể kéo dài cuộc cờ, thần không gian bị khuất phục bởi tình yêu, Bạch Dương lại thêm tức giận.

Bởi cõi phàm trần có những giới hạn của nó, nên người thường sao đọ lại với thần linh.

Một ngày kia người vợ đổ bệnh, chạy chữa thuốc men đã nhiều nhưng vẫn không khỏi mà có vẻ càng nặng thêm. Người chồng u sầu, vì chăm lo cho vợ mà thân thể hao mòn. Hai người họ ai cũng tiều tụy, trông vô cùng đáng thương. Nhưng may sao, ở phương xa có một thần y tiếng tăm lừng lẫy, chữa đâu khỏi đó, trên đường đi cứu nhân độ thế thì ghé qua trấn nơi hai vợ chồng ở, nghe chuyện kể về họ bèn động lòng tới giúp. Thần y bảo:

- Ngự ở đỉnh núi Hiểm có một loài cây quý của thần Thiên Bình trồng, chữa được bách bệnh. Nếu anh có gan vượt qua chướng ngại, gian khổ thì hãy đi lên đấy mà hái hoa của nó về cho vợ ngửi thì sẽ khỏi bệnh. Nhưng đường lên núi thì xa xôi, trở ngại, càng lên cao càng hung hiểm, chỉ có thể đi bộ mà thôi. Nếu không lượng sức mình thì coi chừng có đi mà không có về.

Người chồng không quản ngại gì cả, nghe thấy thế thì vội mừng rỡ và lên đường đi ngay. Khi anh đi, thần y có dặn dò:

- Loài cây ấy không trổ hoa cho người thường chiêm ngưỡng, nhưng nếu ai đến với tình yêu chí thành vô vụ lợi và sẵn sàng hy sinh bản thân vì người yêu thì nó sẽ trổ một đóa để kẻ đó mang về. Nhưng nhớ là một khi hoa rời khỏi thân cây rồi thì chỉ có thể tươi trong vòng bảy ngày thôi, nếu hoa héo thì không chữa được bệnh đâu. Mà hoa ấy của thần linh trồng nên nó không uống nước thường, nó chỉ thích khí trên đỉnh núi Hiểm thôi. Vậy ngươi nhớ khi về phải chạy cho nhanh nhé.

Người chồng nghe lời dặn xong thì cất bước lên đường. Cả trấn biết chuyện đều lo lắng cho anh và cầu nguyện mọi sự bình an khi anh đi. Vị thần y đứng từ xa, nhìn người chồng khuất bóng thì cười ha hả hóa thành Bạch Dương. Thì ra thần thời gian đã ra tay đẩy hai vợ chồng vào hoàn cảnh này để thử thách họ.

Từ khi ra đi, người chồng gặp không biết bao nhiêu khó khăn, cách trở để leo lên đỉnh núi. Sông suối thác ghềnh, đá non giá già lởm chởm, đi mà không khéo thì rách cả chân, đi mà khéo khéo thì biết bao giờ mới tới, vợ ở nhà bệnh đang trầm trọng mỗi ngày. "Thôi thì ráng chịu đựng vậy, nỗi đau này so với nàng có thấm là bao." – Anh nhủ thầm rồi cứ thế bước tiếp. Trời đêm sương xuống lạnh buốt xương tủy nhưng anh cũng không dám dừng lại đốt lửa sưởi ấm. Ban ngày, mặt trời chiếu nóng như thiêu đốt, lóa hết cả mắt nhưng anh không chậm trễ một giây phút nào để nghỉ ngơi. Đèo dốc thì hiểm trở, cheo leo, nhiều lúc không có gì ăn nhưng chàng trai không nề hà. Còn thần Bạch Dương thì từ trên cao nói vọng xuống, vừa cười nhạo, vừa khuyên nhủ:

"Thôi, thôi hãy về đi
Hỡi chàng trai bé nhỏ
Người trần mắt thịt mà mong chi thắng được thần linh
Tình yêu dẫu có cao muôn vàn
Cũng sao so bì được với thời gian bất tận
Thử thách này sẽ giết chết chàng
Để đổi lấy một thứ cũng phai nhạt theo ngày tháng

Thôi, thôi hãy về đi
Hỡi chàng trai yếu đuối
Cứu lấy thân mình
Bỏ mặc người yêu
Thời gian sẽ xóa nhòa tất cả
Tình yêu và đau khổ
Ta sẽ xóa đi nỗi đau của ngươi hôm nay
Ta sẽ xóa đi tình yêu của ngươi bây giờ
Cớ chi lại thi gan với thời gian
Chỉ một đời thôi rồi ngươi cũng không còn gì cả
Tình yêu cũng chỉ một đời thôi

Sông núi cao xa vượt qua không ngại
Thời gian trôi mải miết theo nổi không
Hãy sống cuộc sống của ngươi đi
Coi tình yêu chỉ là một trò vui trong đời
Như bao nhiêu thứ tầm thường khác
Như cây cỏ, như mây gió
Chúng lụi tàn trong dòng chảy thời gian

Người vợ đã yếu lắm rồi
Hãy quay về đi
Hỡi kẻ không biết lượng sức mình
Về mà nhìn nàng lần cuối
Kẻo không còn kịp nữa đâu."

Hù dọa xong, thần Bạch Dương cười ha hả, vang cả núi rừng, đất đai rung chuyển. Nhưng dù cho ngài có có nói gì, bằng ý chí sắt thép, anh đều vượt qua hết để cuối cùng cũng đến nơi.

Đúng như lời thần y nói, ở đây có một loài cây rất lạ, lá xanh đậm, mọc um tùm, cao phía trên cũng thấy mà thấp dưới đất cũng thấy, mọc ở khắp nơi trên đỉnh núi, nhưng không có hoa. Anh bèn tiến đến, bên một bụi cây khá cao và ngước lên hỏi nó:

- Cây ơi, xin cho ta một đóa hoa để đem về cho vợ ta ngửi mà khỏi bệnh, cây nhé.

Cái cây rung rinh cành lá, xào xạc trả lời anh:

- Không cho, không cho.

Anh bất ngờ vì thái độ của cái cây không giống như những gì mình nghĩ là sẽ chào đón và ra hoa cho mình ngay khi mình cầu xin. Anh năn nỉ nó mãi vẫn không được nên bèn lân la làm quen:

- Cây ơi, cây tên gì?

- Không có tên. – cái cây kiêu kỳ đáp.

- Thế cây có muốn một cái tên không, nếu cây cho ta hoa, ta sẽ đặt tên cho.

- Không thèm.

- Cây mà không có tên thì người ta làm sao biết để gọi, không gọi thì có đẹp cũng làm sao thành danh được.

- Ai thèm.

Nói hoài mà cây không chịu cho hoa, chẳng biết làm thế nào, chàng trai buồn bã, ngồi dưới gốc của nó mà khóc. Cây thấy thế mới hỏi thì anh kể rõ sự tình.

Nghe xong cái cây lại rung rinh, từ trong đám lá xanh um tùm, một chiếc nụ được kết thành và lộ ra, từ từ nở một đóa hoa có màu đỏ thắm tuyệt đẹp và hương thơm ngây ngất. Cây bảo anh hãy bứt lấy cành hoa và đem về chữa bệnh cho vợ đi, nó cũng không quên dặn anh là nội trong bảy ngày phải về đến nơi còn không thì hương thơm sẽ bay hết, không chữa được bệnh nữa. Anh cầm cành hoa trên tay, cảm ơn cây và vội vã trở về. Đường xuống núi còn khó khăn hơn leo lên nhiều vì sức của anh đã cạn lắm mà lại còn bị Bạch Dương làm khó thêm nữa.

Về phần thần thời gian, thấy người chồng vì yêu vợ mà không quản ngại gian khó nên ghét lắm. Ngài ngẫm nghĩ:

- Cái thằng này coi thân thể tầm thường như vậy mà khi yêu thì có thể trở thành một kẻ bền bỉ đến thế kia nên ta không thể đánh giá thấp được. Bảy ngày có thể đủ lâu để chia lìa chúng nó nhưng mình phải làm cái gì đấy để đảm bảo là nó không khiến mình sửng sốt nữa.

Nghĩ thế, thần thời gian gọi thêm thần chết và các thần khác trợ giúp. Chư thần nhiều khi tàn nhẫn thế đấy, vì một cuộc hơn thua mà không màng đến sinh linh.

Đường về của người chồng, đèo dốc dường như dốc hơn, trời nóng thiêu đốt hơn, mây phủ dày đặc hơn, sương đêm buốt giá hơn đến nỗi tê cóng hết cả đầu óc. Ban ngày, thần mặt trời sà xuống khiến sông suối bốc hơi hết thảy, cây cối cháy khô làm anh không còn nước để uống, không còn trái để ăn. Chiều về, thần mây giũ rét mướt khắp núi, phủ hết lối đi rồi quấn lấy thân anh mỉa mai:

"Ô kìa chàng trai bé nhỏ
Sống trên dương thế có chán không
Bởi những thứ các ngươi cho là mãi mãi
Cũng chẳng vượt qua được thời gian
Trớ trêu thay."

Đêm đến thần gió bay tới thổi buốt giá vào tai anh vù vù:

"Tôi nghiệp chàng quá người con trai chung tình
Hy sinh vì người yêu chẳng thiết thân mình
Nhưng thời gian sắp hết sẽ chia lìa đôi lứa
Một đi một ở lại thì tình yêu còn là gì."

Lần lần vì quá mệt, chạy không nổi nữa nên anh đi, sắp xuống được núi thì đi cũng không nổi, anh bèn lê đôi chân rệu rã, máu rỉ ra từ những vết thương do leo đèo vượt suối không ngừng nghỉ bao ngày qua. Gần hết bảy ngày mà vẫn chưa thể về đến nhà, anh gục xuống khi sức đã tàn, lực đã kiệt. Thần chết bay đến thủ thỉ bên tai anh:

"Thôi rồi chàng trai đáng thương ơi
Tiếc cho chàng thắng được cả không gian
Qua được sương đêm lạnh thấu xương tủy
Xuyên được mây mù che hết lối đi
Mồ hôi chàng làm mặt trời phải nể phục
Bước chân chàng khiến sông núi phải khiêm nhường
Nhưng vẫn không kịp chàng ơi
Nàng đang hấp hối
Mà chàng thì đã kiệt sức rồi
Thời gian trôi nhanh quá
Kẻ chung tình đành bỏ mạng nơi đây."

Vừa dứt lời, thần chết đưa lưỡi hái ra định móc linh hồn chàng trai theo mình về, kết liễu đời anh. Nhưng lúc suýt chạm vào thì lưỡi hái của thần chết bỗng phải thụt lại. Thiên Bình từ trên cao bay xuống, mang theo sinh khí tới khiến thần chết ấm áp một cách không thể chịu được.

"Bậc thần linh tàn nhẫn ra tay
Sức người làm sao đọ nổi
Muốn biết xem thời gian ghê gớm làm sao
Hãy trông xem tình yêu mạnh mẽ thế nào."

Thần tình yêu cuối cùng cũng phải ra mặt, ngài nói những lời trên như một cách gián tiếp đáp lại thách thức của thần thời gian và ngụ ý rằng nếu có thứ gì có thể làm đối thủ của thời gian thì đó chính là tình yêu. Tiếp, Thiên Bình cáo buộc thần thời gian gian lận:

- Bạch Dương vốn là thần linh mà lại chơi không công bằng khi đọ sức. Đã muốn thử xem ta với ngài ai mạnh hơn ai mà lại lôi cả chư thần khác vào giúp, nào là thần không gian, thần sông, thần núi, thần mây, thần gió, thần chết…, đem con người ra làm trò vui, dùng thủ đoạn để giành lợi thế. Vừa tàn nhẫn lại còn bất chấp luật. Nếu vậy, ta không thể chỉ đứng nhìn.

Nói xong, Thiên Bình cuối xuống nơi chàng trai đang nằm chờ chết mà trên tay vẫn cầm chặt cành hoa, ngài nâng chàng trai dậy, thổi sinh khí vào thân thể anh và bảo:

- Vì cảm động trước tình yêu của chàng dành cho vợ mình, ta cho chàng một phép để nuôi đóa hoa này, mong cho nó vẫn còn hương thơm khi chàng về tới nơi trong trường hợp còn về kịp. Nhưng chàng phải chịu đau đớn.

Người chồng chấp nhận. Xong, thần Thiên Bình bảo anh nắm chặt cành hoa lại. Anh làm theo và chao ôi, bàn tay bỗng thấy đau đớn như bị nhiều chiếc gai nhọn đâm vào. Đó chính là gai mọc ra từ thân của cành hoa, nó sẽ tươi chừng nào anh còn sống vì nó hút máu trên tay anh để tỏa hương. Phép của thần tình yêu không dễ chịu như tên gọi của ngài. Nhờ những chiếc gai, cành hoa gắn chặt thân mình vào bàn tay anh, còn anh thì với chút sinh khí của thần tình yêu vừa ban lúc nãy đã cố gượng dậy, chạy nhanh về nhà.

Về đến nơi, chàng trai đem đóa hoa cho người vợ đang hấp hối ngửi. Mùi hương của đóa hoa lập tức chữa lành bệnh cho người vợ, sức lực của nàng dần dần hồi phục. Tiếc thay, sức ấy chính là sinh lực của người chồng, lúc nàng khỏe lại hoàn toàn thì cũng là lúc sức của người chồng tàn lụi. Chàng trai chết bên người vợ thân yêu của mình. Trên tay anh, cành hoa với những chiếc gai nhọn vẫn còn đó. Người vợ đau đớn khôn nguôi và nhớ thương chồng đến nỗi không nỡ rời xa, nàng ôm thân xác của anh ngồi miết trong vườn nhà, ai bảo gì cũng không đoái hoài. Dần dần, nàng cũng chết. Mọi người thương cảm, bèn đem cả hai đi chôn cất và họ thấy đóa hoa vẫn chưa tàn nên cắm nó lên mộ của đôi vợ chồng. Ít lâu sau, chỗ đó mọc lên nhiều bụi cây nở hoa như thế, người dân thấy đẹp liền đem trồng khắp nơi. Họ cũng không quên kể câu chuyện về sự hy sinh và lòng chung thủy của đôi vợ chồng dành cho nhau. Người ta nhắc đến nó ở trong và ngoài trấn, lan cả sang những vùng miền khác và truyền lại đời đời. Nó được họa trong thi ca, trong văn chương và trong rất nhiều bức tranh tuyệt đẹp. Mặc dù không thể khiến một giây phút nào dừng lại, cũng không khiến khoảng cách ngắn hơn nhưng tình yêu của đôi trẻ đã chinh phục được không gian, thử thách thời gian.

Bạch Dương chứng kiến hết mà bao năm qua không làm sao xóa nhòa được chuyện tình ấy. Cứ nói đến tình yêu thì người ta lại nhắc đến loài hoa đỏ thắm đẹp tuyệt trần với hương thơm ngây ngất nhưng lại có nhiều gai nhọn kia. Mà mỗi lần nhắc đến nó, người ta đều lại kể chuyện của đôi vợ chồng. Thế là thần thời gian đành phải chấp nhận kết quả bất phân thắng bại. Nhưng chuyện không thể chỉ dừng lại ở đây.

Thiên Bình cho mời Bạch Dương và các vị thần khác đến núi Cao dự tiệc. Hết cuộc vui, Thiên Bình nhắc lại chuyện cũ, lúc này Bạch Dương có phần yếu thế vì chư thần đều biết chuyện chính ngài đã dồn đôi vợ chồng trẻ vào kết cục thương tâm để chứng tỏ cái mà cuối cùng ngài cũng phải công nhận là không hoàn toàn như thế. Nhưng Bạch Dương vốn chủ quản thời gian, mà cái đó thì nó cứ thế thôi, chẳng dừng lại được. Tuy vậy nếu bỏ qua thì Thiên Bình không chịu vì ngài muốn rằng Bạch Dương phải nhớ lấy chuyện này. Ngài bảo:

- Bạch Dương thần thời gian, ngài chủ quản tháng năm và giây phút, không một thứ gì tồn tại mà không có dấu ấn của ngài. Ngài vô tình cứ như không thể vô tình hơn. Ngài không bao giờ quay đầu lại dù cho chuyện gì có xảy ra đi nữa. Vạn vật vì ngài mà mang lấy biết bao tiếc nuối. Nhưng ngài đã phạm một sai lầm vì nghĩ rằng mình là vô đối. Ngài muốn đánh bại ta nhưng đã không thắng nổi, và vì việc đó mà làm hai con người vô tội phải chết. Ngài tính sao đây?

- Vô tình cái lý của thời gian. - Bạch Dương vô tư đáp.

- Ta chẳng muốn trách ngài làm chi và cũng không định xen vào chuyện vận hành ngày tháng năm của ngài, nhưng vì ngài có lỗi trước mà chuyện lại vì một thứ do ta chủ quản nên ta buộc thần thời gian phải nhường ta một ngày trong hơn ba trăm sáu mươi ngày của ngài và lặp lại hằng năm.

Thần thời gian đồng ý.

Thiên Bình chỉ muốn thế nhân và thần Bạch Dương hiểu một điều rằng nếu thời gian không thể bị đánh bại thì tình yêu cũng vậy, nó có thể không là vĩnh hằng nhưng nó sẽ song hành cùng thời gian.

------------------------------------------
HẾT TRUYỆN – Tháng 01 năm 2015 – Tác giả: Số 11 – 1988 Truyện