Lời ngỏ: Bài này viết vào năm ngoái, số liệu chắc có đổi khác nhưng hẳn là cũng không quá nhiều, vả lại số liệu chỉ là ước chừng mà thôi.
phần 1
LUẬT CHƠI MỚI
Việt Nam vào những năm 2021 có gần 100 triệu dân. Trong 100 triệu dân này, có bao nhiêu người theo tôn giáo nào đó và theo ở một mức độ như thế nào? Hãy cùng tôi tìm hiểu.
Theo như quan sát của tôi, toàn dân Việt có thể chia ra làm hai khối lớn: Khối ở trong tôn giáo và khối ở ngoài tôn giáo. Khối ở trong tôn giáo gồm những người sống theo một tôn giáo nào đó. Những người này có thể là tín đồ được chứng nhận, cũng có thể không được chứng nhận, trên giấy tờ vẫn ghi là không tôn giáo nhưng lối sống thì đậm nét tôn giáo. Vì thế, tôi không dựa vào số liệu được nhà nước cung cấp, mà tôi cho rằng phải tự tìm hiểu lấy.
Có nhiều tiêu chí để phân loại tôn giáo ở Việt Nam.
Nếu phân chia theo địa lý thì có hai nhánh lớn: từ Phương Tây truyền sang, và từ phương Bắc truyền sang. Theo như quan sát thì phương Tây truyền hai nhóm lớn gồm cả Độc thần lẫn không độc thần: đó là nhóm thờ Thượng Đế: trong đó có Cơ Đốc, Hồi Giáo, Tin Lành, và rất nhiều tổ chức tôn giáo khác,… hầu hết thuộc về Độc thần giáo; và nhóm Phật giáo Nam tông thuộc về Không độc thần; tất cả đều nằm về phía Tây trên bản đồ so với nước Việt Nam. Trong khi đó, phương Bắc không truyền tôn giáo độc thần nhưng truyền tư tưởng chính trị và nhân sinh quan mà lâu dần trở thành một thứ như tôn giáo: Khổng giáo, Đạo giáo, Phật giáo Bắc tông; nhóm này còn được gọi là Tam giáo. Để ý các bạn sẽ thấy, Phật giáo xuất hiện trong cả hai cách phân loại, ảnh hưởng rất mạnh lên đời sống văn hóa của nước Việt lên đến hàng ngàn năm nay.
Tựu chung, tôn giáo cho đến trước thế kỷ 20 vẫn là một sản phẩm ngoại lai, do bên ngoài truyền vào nước ta. Sau đó, mới xuất hiện các tôn giáo ra đời ngay trên nước Việt, cụ thể ở miền nam như: Bửu Sơn Kỳ Hương, Phật Giáo Hòa Hảo, Cao Đài; tuy nhiên các tôn giáo này đều dựa trên tư tưởng từ những tôn giáo có trước mà nguồn gốc bên ngoài nước Việt.
Nhưng tôi nghĩ rằng nếu chỉ lấy mốc thế kỷ 20 thì bức tranh toàn cảnh vẫn chưa đủ rõ rệt. Tuy cái nhìn đó có thể rộng đủ để bao quát hầu hết dãy đất hình chữ S của chúng ta, nhưng cái nhìn đó chưa sâu lắm. Tôi mạo muội đề nghị nhìn sâu hơn bằng cách lấy mốc từ khi Cơ Đốc giáo du nhập vào nước Việt.
Khoảng cuối thế kỷ thứ 16, đạo Cơ Đốc truyền vào nước Việt, tính đến nay họ đã gầy dựng tôn giáo thờ Thiên Chúa được gần năm thế kỷ rồi. Thời kỳ này cũng là thời kỳ có Vua Lê Chúa Trịnh và trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Khi Cơ Đốc giáo truyền vào nước Việt, họ mang theo một phong cách rất Vatican, rất Tây phương, và rất La Mã đến với ta. Tổ chức tôn giáo của họ rất quy tắc và bài bản, hoàn toàn khác lạ với văn hóa tín ngưỡng của người Việt. Tuy người Việt xưa nay vẫn có lễ nghi trong việc hành sự thờ cúng tín ngưỡng, nhưng tổ chức thành một hệ thống như kiểu Vatican thì phải nói là trước nay chưa từng thấy, nó quá đồ sộ và chặt chẽ. Vốn mang trong mình dòng máu tâm linh đậm đà nhưng tổ chức chặt chẽ thì chưa, nên dân tộc Việt đối với Cơ Đốc giáo như là một mỏ vàng vậy. Nhưng mỏ vàng này không phải là không có chủ, chỗ khó là chỗ đấy. Nắm bắt lấy thời cơ, Vatican đã tìm đủ hết các phương pháp, họ thử và sai, thử và sai, cuối cùng cũng thu được một thành quả rất đáng nể ở Việt Nam. Đó là: theo cuộc tổng điều tra dân số vào năm 2019, lấy trung bình từ các nguồn, Công giáo đạt số tín đồ thứ nhì trong nước, và chiếm 7% tổng dân số, tức vào khoảng 7 triệu người. Đồng Nai là tỉnh có nhiều tín đồ nhất, khoảng 1 triệu người.
Trước sự hiệu quả từ phương pháp tổ chức của Công giáo, các tôn giáo khác ở Việt Nam dần dà cũng học hỏi theo. Thế kỷ 20 đánh dấu sự bùng nổ của các tổ chức tôn giáo, cũng là đánh dấu cho một sân khấu mới, hay gọi là tập phim, màn kịch mới cũng không ngoa; đó là việc các tôn giáo lần lượt bá cáo với thiên hạ về sự hội nhập và chấp nhận luật chơi mới của mình. Những tôn giáo thiên về vô vi như đạo Phật cũng phải thích nghi với thế cuộc này. Phật giáo ở Việt Nam, với một truyền thống lâu đời ở nước Việt cả ba miền Bắc Trung Nam, vào thế kỷ 20, đã tổ chức niềm tin đạo Phật. Thông qua nhiều hội đoàn, cuối cùng họ đến với hình thức giáo hội gọi là Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Theo số liệu thống kê vào năm 2019, trung bình từ các nguồn, họ chiếm khoảng 20% tổng dân số, tức khoảng 20 triệu người. Thành phố Hồ Chí Minh đông tín đồ nhất, khoảng 1,5 triệu người.
Phật Giáo Hòa Hảo, tính trung bình các nguồn khoảng 1 triệu tín đồ, chiếm 1% dân số, chủ yếu ở tỉnh An Giang.
Tin Lành giáo, theo trung bình các nguồn cũng khoảng 1,2 triệu tín đồ, chiếm 1,2% dân số, tỉnh Đắk Lắk có nhiều tín đồ nhất với khoảng 200 ngàn người.
Cao Đài giáo, tính trung bình các nguồn có khoảng 3 triệu triệu tín đồ, tương đương với 3% dân số, Tây Ninh là nơi có nhiều tín đồ nhất với hơn 500 ngàn.
Các tôn giáo khác có số tín đồ ít hơn nhiều. Tất cả hợp lại chiếm khoảng 1/3 tổng dân số cả nước. Tuy nhiên, đây chỉ là số liệu thống kê ước chừng. Mỗi tôn giáo đều ghi ra con số có phần đã được tô điểm thêm cho họ trông có vẻ rạng rỡ trước các tôn giáo bạn, còn nhà nước thống kê thì luôn ít hơn con số đó vì có nhiều người theo tôn giáo nhưng ghi “không” vào mục tôn giáo trên giấy tờ. Và đối với những người có là tín đồ của một tôn giáo, thì bao nhiêu trong những con số đó là người hành đạo nhiệt thành? Giống như câu hỏi dành cho các hãng công nghệ vậy, số người dùng tuy cao nhưng bao nhiêu trong số họ là người dùng thường xuyên hoạt động (active users)? Để nói cho rõ một con số thì e rằng không có khả năng thực hiện. Mạnh và quyền lực như nhà nước mà còn không thể thống kê chính xác được thì một người dân bình thường làm sao làm được? Vậy nên, tôi nghĩ rằng tính chính xác 100% phải bị dẹp qua một bên, thay vào đó là độ chính xác chừng 80% mà thôi, nếu tốt hơn nữa là 90%, thậm chí tôi vẫn còn thấy để đạt những sự chính xác này cũng là khó lắm rồi. Và không thể nào chính xác bằng cách hỏi từng người rồi ghi vào sổ được, mà phải quan sát. Và con số tỷ lệ sẽ phản ánh những tín đồ có sinh hoạt tôn giáo mà thôi, một điều mà chính tôi cho rằng thiết thực hơn là con số thống kê trên giấy tờ mà đã bao gồm cả những tín đồ ít sinh hoạt cho đến không sinh hoạt gì cả.
Suốt nhiều ngàn năm, nước Việt không có một tổ chức tôn giáo nào, kể cả khi những hệ tư tưởng thâm nhập vào tầng lớp vua chúa quan lại, họ cũng không đem những hệ tư tưởng đó tổ chức thành giáo hội, cho đến khi Cơ Đốc giáo bên Tây du nhập vào nước ta, họ đã thay đổi luật chơi. Có người nói văn hóa nguyên thủy của nước Việt nằm ẩn sâu trong lớp áo Tây phương, lớp áo Trung Hoa, và cả lớp áo Phật giáo nữa. Đó chính là lý do tôi dùng từ “thay đổi luật chơi” vì chỉ có luật lệ thay đổi thôi, tức từ không có tổ chức giáo hội chuyển thành có tổ chức giáo hội, chứ còn ngoại lai thì ai cũng ngoại lai.
Như có nói, các tôn giáo tạm phân ra hai nhóm. Nhóm độc thần giáo và nhóm không độc thần.
Bảng trên chứa danh sách của 16 tôn giáo đã được phép hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam do nhà nước CHXNCNVN cấp, tính đến năm 2020. Như có thể thấy, hai bên có số đơn vị tôn giáo ngang nhau, tức 8 tôn giáo độc thần, lượng tín đồ tính tương đối là 12 triệu; 8 tôn giáo không độc thần, lượng tín đồ ước tính là khoảng 22 triệu. Các tôn giáo độc thần có đặc điểm là mang phong cách Âu châu và từ Âu châu truyền sang, xoay quanh việc thờ Đấng Thiên Chúa toàn năng. Các tôn giáo không độc thần có đặc điểm là thuộc hệ thống tam giáo và chủ yếu nhất là Phật giáo, từ Trung Hoa truyền sang. Đáng chú ý là tôn giáo Cao Đài, hợp nhất tam giáo và Thiên Chúa với nhau, tạo thành một cách cục tam giác mà phần đáy là tam giáo Phật-Lão-Khổng, phần chóp là Thiên Chúa; nghĩa là dùng người trong tam giáo để thờ Thiên Chúa vậy.
Ngoài ra, còn một đặc điểm nữa về hai khối tôn giáo này kể cũng đáng nói ra như sau: nhóm các tôn giáo độc thần khó dung hòa, vì mỗi tôn giáo đều cho rằng Đấng của mình mới là Tối Cao nhất; trong khi đó nhóm các tôn giáo không độc thần dễ dung hòa với nhau hơn vì không có ý thức hệ về một Đấng độc tôn nên họ dễ hòa nhập và lẫn lộn với nhau, tuy nhiên tổng thể thì chịu ảnh hưởng nặng từ lối tu tập kiểu Trung Hoa. Vậy tính ra, dù là độc thần hay không độc thần đều có điểm chung là “hàng ngoại”. Mà chúng ta thừa biết là dân Việt Nam thích hàng ngoại như thế nào rồi đó.
Có một câu hỏi: văn minh nguyên thủy sâu xa, ẩn tàng nhất trong hồn nước Việt là gì? Tức sau khi gột rửa hết những ảnh hưởng của Tây phương, của Bắc phương, dân tộc Việt còn lại gì? Tôi chưa trả lời câu hỏi này được, tôi cũng chưa từng thấy ai trả lời được câu hỏi này. Và tôi cảm thấy bình yên và thoải mái vì câu hỏi này chưa được trả lời. Có lẽ cứ để thiên hạ đoán già đoán non tùy ý vậy. Hồn Việt là gì, ở đâu, có hình tướng không, nói tóm lại rốt cuộc nó là cái gì mới được? Nếu nó phải ở nơi sâu thẳm không bao giờ lộ diện để cho dân tộc, dù có kinh qua bao nhiêu cuộc bể dâu đi chăng nữa, vẫn được trường tồn, 5000 năm trước đã có nước Việt, 5000 năm sau vẫn có nước Việt, và có thể con số 5000 năm cũng còn ít, thì, nếu phải như vậy, thì thôi, cứ để nó thế.

No comments:
Post a Comment